Xem các bài viết

This section allows you to view all posts made by this member. Note that you can only see posts made in areas you currently have access to.


Chủ đề - tinhbanvatoi

vào lúc: 28/11/10, 00:05 1 Cổng vào tri thức / Không phân loại / Vàng: những sự việc kỳ thú ít ai biết

Có thể bạn nắm rất rõ giá vàng lên xuống hàng ngày, nhưng có một số câu chuyện thú vị về loại kim loại đặc biệt này có thể bạn chưa biết.

Thị trường vàng đã từng rất “bình yên”

Trong vòng 10 năm trở lại đây, giá vàng trên thế giới biến động không ngừng và tăng đến chóng mặt . Năm 2000 giá của 1 ounce vàng (tương đương 28,35g) là 279 usd, thì đến giữa năm 2010 đã đạt mốc 1.300 usd. Tuy nhiên, trong quá khứ, giá trị của kim loại đầy quyền lực này rất ổn định trong một thời gian dài mà không có biến động gì lớn. Ví dụ, giai đoạn từ năm 1833 – 1918, giá của 1 ounce vàng chưa bao giờ tăng quá 6 cent so với giá gốc là 18,93 usd/ounce; và trong thời gian 1933 – 1967 giá của 1 ounce vàng chỉ tăng có 26 cent, mặc cho hàng loạt các đợt khủng hoảng lạm phát và suy thoái kinh tế.

Là kim loại có tính mềm dẻo cao

Vàng là kim loại mềm và dễ kéo dãn đến nỗi có thể kéo một sợi dây dài đến 80km từ 1 ounce vàng, hoặc nếu dát mỏng thì nó có thể bao phủ 1 diện tích đến hơn 30m2 .

Tuy mềm nhưng rất nặng

Mặc dù là một kim loại mềm, nhưng nó cực kỳ đậm đặc và nặng; 1 fut khối (tương đương 0,3048 mét khối) vàng nặng đến nửa tấn.

Ẩn mình trong đất

Phần lớn lượng vàng được tìm thấy ngày nay không nằm trong các mỏ vàng được đào sâu trong lòng đất, mà chúng được thu gom từ việc sàng đãi từ một khối lượng đất khổng lồ bị rửa trôi từ các ngọn núi. Ví dụ, ở Nam Phi, để cung cấp một lượng vàng khoảng 500 tấn ra thế giới mỗi năm, người ta phải xử lý đến 70 triệu tấn đất – một khối lượng tương đương với thể tích của kim tự tháp Cheops.

Phần lớn vàng của thế giới được dùng làm đồ trang sức

Theo Ủy ban Vàng Thế giới, khoảng 70% sản lượng vàng trên thế giới được sử dụng để làm đồ trang sức. Chỉ 13% được dùng để đúc tiền, hoặc cất trữ trong các ngân hàng trung ương của các quốc gia, hoặc lưu thông trên thị trường thông qua các hoạt động giao dịch. Phần còn lại được dùng vào nhiều mục đích khác như trong các ngành công nghiệp, và trong lĩnh vực nha khoa. Ấn Độ là quốc gia tiêu thụ nhiều vàng nhất, chiếm khoảng ¼ nguồn cung cấp vàng trên thế giới. Theo một bài viết trên tạp chí Diamond World, quốc gia ở vùng Nam Á này nhập khẩu khoảng 800 tấn vàng mỗi năm, và khoảng 600 tấn trong số này được dùng để làm đồ trang sức.

Đơn vị đo lường là tên một loại quả

Cara (carat) – đơn vị dùng để đo mức độ tinh khiết của vàng, ban đầu là một đơn vị dùng để đo trọng lượng. Carat là tên của một loại quả cây thuộc họ đậu; một quả đậu này cân nặng khoảng 1/5 gam.

Được sử dụng để sản xuất linh kiện điện tử

Không chỉ có các nhà kim hoàn và các ông chủ ngân hàng mới đánh giá cao giá trị của vàng, mà các nhà sản xuất linh kiện điện tử cũng coi trọng kim loại đặc biệt này bởi tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao; vì vậy nó là một vật liệu lý tưởng để chế tạo dây dẫn và công tắc điện. Nó còn là loại vật liệu có độ bền cao và có thể chịu đựng sự ăn mòn tự nhiên, hơn nữa lại rất mềm dẻo và dễ dát mỏng, cho nên các loại hợp kim vàng có thể được dát cực mỏng mà không bị thủng.

Có thể làm suy vong một đất nước

Suốt giai đoạn 1492 – 1600, một lượng vàng và bạc khổng lồ đã bị người Tây Ban Nha thâu tóm từ châu Mỹ và đưa trở về nước của họ, làm tăng gấp 5 lần nguồn cấp vàng của cả châu Âu lúc bấy giờ. Tuy nhiên, thay vì làm hưng thịnh đế quốc này, số kim loại quý này đã dần làm suy yếu nó bởi vì người Tây Ban Nha đã dùng số vàng bạc này để nhập khẩu hàng tiêu dùng thay vì đầu tư vào các cơ sở sản xuất trong nước để gia tăng lợi nhuận. Việc này đã đẩy giá cả thị trường tăng cao, làm vàng mất giá, đế quốc này càng ngày càng mắc những khoản nợ nước ngoài khổng lồ và mất dần vị thế cường quốc của mình.

Có nhiều màu

Vàng nguyên chất có màu vàng sáng, nhưng ở dạng hợp kim khi kết hợp với các kim loại khác như bạc, đồng, niken, bạch kim, paladi, hay sắt, nó có thể có rất nhiều màu sắc khác nhau, từ trắng bạc đến xanh lục, hay đỏ cam.

Theo vietnamnet.vn

vào lúc: 27/11/10, 23:52 2 Thư giãn - Giải trí / Gallery cuộc sống / Những tác phẩm vô giá "made by trái đất"

Ở bất kì nơi nào trên hành tinh này cũng đều tìm thấy những "bức họa" đỉnh cao của tự nhiên.

Nếu bạn là một người say mê hội họa thì chắc hẳn đây sẽ là một số bức ảnh khiến bạn vô cùng tâm đắc. Dưới đây là bộ ảnh "Earth as Art" (Trái đất là nghệ thuật) được Nhóm khảo sát địa chất Hoa Kỳ và NASA tiến hành thực hiện. Với những hình ảnh từ vệ tinh nhân tạo, Trái đất hiện ra với những màu sắc đan xen tự nhiên mà như có chủ ý, thật giống với một bức tranh trừu tượng đáng nể của nhân loại.

Mời các bạn cùng thưởng thức bức tranh muôn màu.

Bức ảnh đã làm nổi bật lên những đường sọc có màu vàng nhạt. Bạn thử đoán xem, đường sọc vàng đó là gì? Đó chính là những dải cát cồn kéo dài tạo nên đụn cát Erg Iguidi, kéo dài từ quốc gia Algeria đến quốc gia Mauritania phía Tây Bắc Châu Phi.

 

Trong bức tranh này, tại vùng chính giữa bật lên những sọc đỏ thắm. Đó là hình ảnh còn lại của một một dòng nham thạch trộn bùn lớn, bắt nguồn từ ngọn núi lửa, mà gần đây không còn hoạt động nữa, ở vùng Đông Bắc nước Nga. Ngọn núi này chính là vùng tròn màu cam nằm ở phía bên phải của sọc đỏ. Bức ảnh còn bao quát được cả một vùng núi lửa cao chót vót, thung lũng dốc và hoang dã, những dòng sông và con suối bị tuyết bao phủ kín.

Những nét vẽ nguệch ngoạc màu hồng và xanh lá cây của tự nhiên đã tạo nên hòn đảo mộng mơ Belcher nằm trên nền nước xanh thẳm của vịnh Hudson thuộc quốc gia Canada. Người dân địa phương tập chung sống ở thị trấn nhỏ của Sanikiluaq, phía gần cuối của vùng giữa đảo. Màu xanh lành lạnh trong bức tranh này đã phần nào nói lên đặc điểm của hòn đảo Belcher.

Địa chất của quần đảo Belcher thuộc liên đại Nguyên sinh (là một liên đại địa chất của thời kỳ trước khi có sự phổ biến đầu tiên của sự sống phức tạp trên Trái Đất, xuất hiện khoảng 2.500 triệu năm trước), gồm các lớp đá trầm tích, lớp nham thạch và cacbon. Sinh vật hoang dã chủ yếu ở vùng này là cá voi trắng, hải mã, tuần lộc và cú tuyết.


 
Dòng sông băng Byrd ở vùng Nam Cực đang chuyển động rất nhanh với tốc độ là 0,8km/năm xuyên qua dãy núi Transantarctic. Hơn 180km của sông băng này chảy xuống từ cao nguyên địa cực (phía bên trái) tới thềm băng Ross (phía bên phải). Dòng băng chảy dài này chảy qua những vết nứt sâu với những dòng ngắn hơn. Màu đỏ xuất hiện trong bức vẽ thể hiện lớp đá nằm trơ ra.

 
Quần đảo Caicos phía Bắc Caribbean nổi tiếng là điểm thu hút khách du lịch bởi những bãi biển tuyệt đẹp, làn nước trong vắt, dịch vụ lặn biển và những khu nghỉ dưỡng sang trọng. Những hòn đảo này nằm chủ yếu dọc theo vành đai ngập nước ở phía Bắc Caicos. Một nền đá vôi nông được hình thành từ cát, tảo và các rạn san hô bao phủ lên một diện tích khoảng 6.140 km vuông. Trong bức ảnh này, màu xanh ngọc lam biểu thị cho quần đảo Caicos, còn màu đỏ là thực vật nơi đây.


 
Khung cảnh giống trên vũ trụ quá nhỉ?
Cũng giống như thiên hà xa xôi nằm giữa những đám mây bụi ngôi sao như được tái hiện với hình ảnh những mảnh băng trôi trắng xóa trên biển lưu vực Foxe gần đảo Baffin ở Bắc Cực Canada. Băng biển khi mới hình thành thường là những tinh thể đá tạo ra những vệt như vết dầu loang trên bề mặt đại dương. Khi nhiệt độ giảm xuống, thì lớp băng trở nên dày hơn và tạo thành một khối băng cứng.


 
"Tranh hổ vằn" thật độc đáo
Những vết vằn viện sọc cam, đen và trắng giống như đầu một con hổ này là hình ảnh phần kéo dài của bờ biển phía Bắc Iceland. Phần “miệng hổ” đang há trong bức ảnh chính là vịnh Eyjafjordur rất sâu và hẹp nằm giữa vùng đất liền và những ngọn núi dựng đứng. Cách đó không xa là thành phố cảng băng tự do, trung tâm đông dân thứ hai tại Iceland, chỉ sau thủ đô Reykjavik.


 
Trong suốt thời gian cuối cùng của Kỷ Băng Hà, đảo Akimiski thuộc vịnh James của Canada nằm đè nặng dưới một dòng sông băng rộng lớn. Khí hậu thay đổi, băng cũng rút dần thì đảo Akimiski mới được lộ mình. Quá trình “ngoi lên” của hòn đảo này diễn ra tuy chậm nhưng ổn định, và cũng bởi tác động của sóng biển mà sự nhô lên của đảo Akimiski được đánh dấu bởi những đường vành đai bậc thang tự nhiên.

Theo kenh14.vn

vào lúc: 27/11/10, 23:14 4 Thư giãn - Giải trí / Yêu tiếng cười - Chat chít / Bảy chú lùn và nàng Bạch Tuyết thời hiện đại

Ngày xửa ngày xưa, tại xứ sở nọ, có một vương quốc thịnh vượng và thanh bình. Mùa đông năm đó, tuyết rơi trắng như bông. Hoàng hậu của vương quốc ngồi đan bên cửa sổ...
"Ái dồi ôi" - Bổng hoàng hậu kêu thất thanh và vứt mạnh kim đan ra phía trước. Bà bị kim đâm vào tay. Cũng phải thôi, vì từ bé đến giờ, sống trong nhung gấm, người hầu kẻ hạ xung quanh, có bao giờ phải đan đâu. Bà đau, đau lắm. Một giọt máu từ tay bà rơi xuống tuyết, tuyết phủ che mất. Một giọt nữa, lại bị tuyết che. Tức mình, bà nặn máu cho ra. Máu hoà xuống tuyết, đỏ lòm. Hoàng hậu liền ước : “Sau này mà có một người con gái da trắng như tuyết, môi đỏ như máu, tóc đen như gỗ mun thì sướng nhờ”. Nghĩ vậy, bà mỉm cười, và kéo vua cha vào phòng ngủ...

Chín tháng sau, hoàng hậu sinh được một cô con gái giống y như mong ước. Da cũng trắng như tuyết, môi đỏ như máu, tóc đen như gỗ mun, và răng thì vàng khè. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Bạch Tuyết vừa được sinh ra thì bà mất, hưởng thọ 35 tuổi và an táng tại quê nhà.

Một năm sau, vua cha lấy vợ mới. Bà này đẹp, nhưng kiêu. Ngày nào bà cũng soi gương và hỏi:

“Gương kia ngự ở trên tường.
Nước ta ai đẹp được dường như ta.
Ta là hoàng hậu kiêu sa.
Gương mà nói xấu là ta đập liền”.
Gương đành trả lời: “Thưa hoàng hậu, hoàng hậu đẹp nhất trần đời”. Nghe vậy, hoàng hậu sướng rơn.

Bạch Tuyết càng lớn càng xinh đẹp, nhất là khi nàng không cười. Mỗi bước chân nàng đi, hoa trái như tươi hơn, chim chóc như hót hay hơn, và không gian tràn ngập tiếng vui cười. Năm lên bảy, Bạch Tuyết bắt đầu đẹp hơn hoàng hậu, giờ đã bước vào tuổi lục tuần.

Vào một ngày nọ, như thường lệ, vừa tỉnh giấc, hoàng hậu hỏi ngay gương thần. Nhưng lần này, gương đã trả lời: “ Xưa kia bà đẹp nhất trần. Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn”. Nghe gương trả lời, hoàng hậu giận tím người. “ Này thì đẹp này, này thì đẹp này”, hoàng hậu vừa gào, vừa đập bôm bốp vào gương. Đập chán, bà liền cho gọi người thợ săn giỏi nhất của vương quốc đến và ra lệnh: “Nhà người hãy đem con Bạch Tuyết xấu xí vào rừng, treo nó lên cành cây, và moi tim gan của nó về đây cho ta xào cần tỏi. Mau!”.

Người thợ săn vâng lệnh và đem Bạch Tuyết vào rừng. Khi ông rút dao ra, Bạch Tuyết liền khóc lóc thảm thiết:

Bác tha cho cháu bác ơi
Cháu xin ở lại rừng chơi suốt đời
Bác về nói với bà ta.
Bác vừa giết cháu chẳng tha cho về.
Tim thì bác mổ lợn xề.
Gan, bác bắn hoẵng mang về lập công”.
Động lòng, người thợ săn tốt bụng liền thả cho Bạch Tuyết chạy đi, rồi ồng quay trở lại lâu đài với bộ lòng lợn rừng trên tay...

Lại nói về Bạch Tuyết. Được người thợ săn thương tình, cô chạy một mạch không thèm ngoái lại vì sợ ông đổi ý. Cô cứ chạy, chạy mãi. Thú rừng gào rú xung quanh cô. Gai rừng cứa khắp người cô. Không biết cô đã phải đau đớn thế nào, chỉ biết rằng sau này thì thân thể cô chằng chịt sẹo.

Chán nản, Bạch Tuyết bắt đầu khóc. Cô khóc thương người mẹ quá cố. Cô khóc giận người cha nhu nhược. Cô khóc hận mụ dì ghẻ độc ác. Và cuối cùng, cô khóc vì sợ. Không sợ làm sao được, khi bầy thú hoang chạy xung quanh cô cứ liếm mép quèn quẹt. Cô cứ chạy như vậy không biết đã bao xa, vượt qua bao con suối, leo qua bao ngọn đồi. Thế rồi, đến lúc tưởng chừng như tuyệt vọng nhất, bỗng trước mắt cô hiện ra một ngôi nhà nhỏ. Mừng rơn, Bạch Tuyết hét to: "Y.a.h.o.o!!!!!!!, sống rồi".

Từ từ, thận trọng, Bạch Tuyết tiến lại gần ngôi nhà. "Cộc... Cộc...Cộc", cô gõ cửa. Không có tiếng đáp lại. "Kịch...Kịch...Kịch", Bạch Tuyết gõ to hơn. Không gian vẫn im lặng như tờ. "Uỳnh...Uỳnh... Uỳnh", lần này, lấy hết sức bình sinh, Bạch Tuyết mắm môi mắm lợi đạp cửa. Chỉ có tiếng ẳng của một con chó hoang giật mình kinh hãi. Bạch Tuyết thử đẩy cửa. "Xời, thế mà cứ tưởng là có khoá", cô nói thầm vì cửa mở toang. Trước mắt cô hiện ra một cảnh tượng kỳ thú mà có nằm mơ cô cũng chẳng bao giờ hình dung ra được. Đồ vật trong nhà, cái gì cũng bé tẹo, mà loại nào cũng có 7 thứ...

Trong khu rừng này, không có một bóng dáng người qua lại, ngoại trừ 7 người đàn ông tí hon, hay còn gọi là 7 chú lùn. Thường ngày, cả 7 chú lùn đi làm từ sáng sớm, sau khi đã chuẩn bị cơm nước đầy đủ cho bữa tối. Họ làm cửu vạn tại một thị trấn cách đó không xa. Hôm nay, họ về muộn hơn thường nhật. Từ xa, cả 7 chú đã nhận thấy nhà mình có điều gì khác lạ so với mọi ngày. Cửa giả thì mở toang. Khói thôi toả lên từ mái bếp. Và chao ôi: thú dữ đứng xếp hàng trước cửa. Bước vào căn phòng, sự xáo trộn đầu tiên đập vào mắt các chú lùn là bàn ăn của họ.
" Ai đã uống chút nước của tôi vậy?" Chú lùn thứ nhất kêu to.
" Còn ai đã dùng chút cơm của tôi?" Đến lượt chú thứ hai ngạc nhiên.
" Ai đã ăn chút rau của tôi?" Chú lùn thứ ba thốt lên
" Và ai đã xơi hết thịt của tôi?" Cuối cùng chú thứ bảy cất tiếng.

Cả bảy chú lùn đứng đưa mắt nhìn nhau. Vậy là tối nay phải ăn mì tôm rồi. Bỗng một chú hét lên: " Phòng ngủ của tụi mình đang có người trong đó". Không ai bảo ai, tất cả cũng lao vào. Và cũng không ai bảo ai, tất cả đều dừng lại trước cửa.
" Chả phải em sợ đâu, nhưng anh là anh cả, anh vào trước đi, bọn em đứng ngoài cảnh giới". Chú thứ bảy nhìn anh trai, đồng thời đẩy mạnh anh vào phòng... Người anh cả bước vào phòng với chiếc cời lò trên tay. Từng bước, từng bước, chú thận trọng đi vào. Không gian im lặng đến nghẹt thở... Bỗng uỳnh. Chuột chạy loạn xạ. Chiếc cời lò rơi từ trên tay chú xuống đất lúc nào. Cảnh tượng trước mắt làm chú sững sờ, quên cả đau đớn do bị cời lò rơi vào chân. Một cô bé đẹp như thiên thần, đang nằm ngủ trên 7 chiếc giường được nàng ghép lại. Khuôn mặt cô mới thánh thiện làm sao, nếu không để ý đến gợn thịt nhỏ còn vương trên mép. Nụ cười trên môi cô càng làm cho khuôn mặt của cô thêm phần rạng rỡ. Tuy nhiên hai nắm tay cô thì lại đập liên tiếp xuống giường. Có lẽ cô đang trải qua một giấc mơ đầy biến động.

Trong cơn mơ, Bạch Tuyết thấy mình đấm túi bụi vào mặt hoàng hậu. Chịu không nổi, hoàng hậu ngã cái rầm làm cô giật mình tỉnh giấc.

“A a a....... Mẹ ơi cứu con”. Bạch Tuyết hét lên hoảng loạn khi thấy 7 người đàn ông có bộ mặt cười đang ngó mình trân trân. Rồi tiếng hét cứ nhỏ dần, nhỏ dần, rồi lại vút cao. Được một lát thì tắt hẳn. Lúc này, thay vì sợ hãi, cô bắt đầu thấy tò mò với 7 con người trước mặt. Hơn nữa, cả bảy chú lùn đều tỏ thái độ rất thân thiện khiến cô cảm thấy họ thậm chí còn đáng yêu nữa là đằng khác, nếu không kể tới đôi lúc có chú lại nghiến răng ken két vì quá đói. Dần dần họ đã làm quen được với nhau.

Cuộc sống êm ả cứ thế trôi qua. Hàng ngày, Bạch Tuyết làm Ô sin quét dọn nhà cửa, nấu cơm đun nước, giặt giũ quần áo trong khi 7 chú lùn đi làm cửu vạn ở làng bên. Tối đến, họ cùng đánh chắn. Cả 8 người đều cảm thấy rất hạnh phúc...

Về phần dì ghẻ, đinh ninh rằng mình đã được ăn tim gan Bạch Tuyết, bà ta không thèm ngó ngàng tới gương thần. Một hôm, nhân dịp sinh nhật lần thứ 70, bà mới lại lôi gương ra và bắt đầu hỏi:

“ Gương kia ngự ở trên tường
Nước ta ai đẹp được dường như ta...”

“ Xưa kia bà đẹp nhất trần
Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn
Nàng ta ở khuất núi non
Tại nhà của bảy chú lùn xa xa”
Gương thần trả lời. Và đây cũng là lần cuối cùng người ta nhìn thấy gương thần vì ngay sau câu trả lời đó, dì ghẻ vớ lấy gương và lẳng vèo ra ngoài cửa sổ vỡ tan tành.

Ngay sau đó, dì ghẻ nhằm hướng nhà của 7 chú lùn thẳng tiến, sau khi đã hoá trang thành người bán hoa quả rong với hai gánh táo trĩu nặng trên vai. Một ngày kia, trước cửa nhà của bảy chú lùn xuất hiện một bà lão với một quả táo duy nhất trong đôi quang gánh của mình. Để có thể đến được nơi, dì ghẻ phải chén dần chén mòn số táo mình mang đi. Còn quả cuối cùng, bà ta bơm thuốc độc vào một nửa rồi mang đến chỗ Bạch Tuyết:

- Hỡi con gái xinh đẹp của ta. Ta mang cho con quả táo này để con ăn cho thêm phần rạng rỡ.
- Thần kinh à? Dở hơi à? Điên à? Trời không mưa sao mặc áo mưa? Bạch Tuyết đáp. Ai là con gái bà? Còn táo thì thôi khỏi, bảy chú lùn dặn rằng không được ăn đồ của người lạ.
- Cô sợ táo có thuốc độc ư? Đừng nghĩ thế phải tội, cô gái. Bây giờ thế này nhé. Ta sẽ ăn một nửa, và đưa cho con một nửa. Vậy là OK rồi chứ gì?
- Thế thì quý hoá quá. Cho cháu nửa ngon ngon kia kìa.

Vừa ăn dứt miếng táo, Bạch Tuyết giật giật mấy cái rồi ngã lăn xuống đất, và dì ghẻ, bà ta cũng giật giật mấy cái vì đau khi bị Bạch Tuyết tóm lấy tóc trước khi ngã. Đau, nhưng dì ghẻ sung sướng lắm. Làm sao mà không sung sướng cho được, khi giờ đây bà đã không còn đối thủ về nhan sắc. Hạnh phúc tuyệt đỉnh, bà chạy một mạch về lâu đài, băng băng qua những con suối, nhảy vút qua các khóm bụi rậm, và giành giải nhất cuộc thi marathon vượt rào đang tình cờ được tổ chức trong vương quốc...

Hôm nay, khác với mọi ngày, bỗng nhiên cả bảy chú lùn đều cảm thấy trong lòng có điều gì bất ổn. Tình trạng vẫn không khá hơn, sau khi cả bảy chú đã xơi gọn 7 gói xôi to vì ngỡ rằng mình đói. Trên đường về, khung cảnh dường như khác thường hơn. Thú rừng chạy tung tăng khắp nơi vì không còn lo bị những viên đạn được bắn ra từ súng săn của một ai đó nấp trong nhà. Còn chim chóc thì đậu kín trước sân. Thường ngày lấy đâu ra chim do chúng sợ sập bẫy của Bạch Tuyết đặt trước cửa nhằm cải thiện bữa ăn. Bảy chú lùn linh cảm thấy một điều gì chẳng lành khi tiến đến gần ngôi nhà. Bỗng một tiếng rú vang lên, tiếp theo là 6 tiếng rú khác: Họ nhìn thấy Bạch Tuyết nằm sõng xoài bên cửa ra vào, và trong tay nàng là một nắm tóc...

Biết rằng Bạch Tuyết đã bị dì ghẻ hãm hại, bảy chú lùn đau đớn lắm. Từ đây, cơm nước chẳng ai lo, áo quần không ai giặt. Họ khóc ròng rã ba ngày liền, đêm vẫn đi ngủ. Họ muốn chôn cô, nhưng khi thấy sắc mặt cô vẫn ửng hồng như lúc còn sống thì lại không nỡ. Họ đặt cô vào trong một chiếc quan tài bằng thuỷ tinh trong suốt, khắc tên cô bằng chữ vàng, và ghi rõ cô là một nàng công chúa. Họ mang quan tài cô lên núi rồi thay phiên nhau ngày đêm trông giữ. Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, Bạch Tuyết nằm trong quan tài vẫn tươi tỉnh như khi chưa nằm trong quan tài. Da nàng vẫn trắng như tuyết, tóc vẫn đen như gỗ mun, môi vẫn đỏ như máu, và răng thì vẫn vàng khè...

Một ngày nọ, có một hoàng tử tình cờ đi ngang qua. Biết được câu chuyện do các chú lùn kể lại, hoàng tử xin được mang nàng về để nhìn cho sướng. Được các chú lùn đồng ý, chàng bảo thị vệ khuân quan tài thuỷ tinh xuống núi. Bỗng nhiên, một người thị vệ vấp phải rễ cây khiến cho quan tài bị xóc mạnh. Miếng táo trong miệng Bạch Tuyết văng mạnh ra ngoài. Bạch Tuyết sống lại, và thay vào đó là một chú chó chết nhăn khi đớp phải miếng táo đó.

Nghe hoàng tử kể lại đầu đuôi câu chuyện, tất nhiên là sau khi đã thêm mắm thêm muối cho tăng phần sinh động, Bạch Tuyết liền đồng ý theo hoàng tử sang Đài Loan về ra mắt nhà bố mẹ chồng. Lễ cưới được tổ chức vô cùng sang trọng. Trong số khách mời, có cả mụ dì ghẻ độc ác. Vừa nhìn thấy Bạch Tuyết, cơn tức giận dâng trào, mụ liền ngã lăn ra chết

Tuy sống trong hạnh phúc bên hoàng tử, Bạch Tuyết vẫn không quên bảy chú lùn. Nàng xin phép chồng đón bảy chú về cung và tìm được bảy cô lùn giúp các chú an hưởng tuổi già. Họ đã cùng ở bên nhau cho đến cuối đời

vào lúc: 08/01/10, 15:11 5 Thư giãn - Giải trí / Chém gió / Phóng sự điều tra: Tại sao Tường cave và Vân handy cưới nhau

năm mãi nghĩ mãi chưa có cái cốt chuyện hihi ;) ,nhờ các đồng chí của tôi viết tiếp hộ nhé :P  .theo tôi câu chuyện tình này sẽ sánh ngang cùng chuyện tình SAO - VỊT năm xưa, có ai cũng ý kiến giống TBVT  :argue: ?.
 

vào lúc: 09/08/09, 10:36 6 Khu Phố Văn Hoá / Văn xuôi / KHÚC CÂY BIẾT KHÓC

                                   
KHÚC CÂY BIẾT KHÓC



Từ trong khu nghĩa địa trên đường Alumrock và Capitol Ave. Dung băng qua lộ đến chỗ parking lot lấy xe, đứng tựa mình vào hông xe ngẩn ngơ nhìn bầu trời xanh đang gợn chút mây hồng, đẹp như bức tranh thủy mạc, tự dưng lòng Dung thấy nao nao buồn, nỗi nhớ mẹ cha canh cánh bên lòng, nỗi xót xa cho thân phận, nỗi thương người yêu bạc phước nên lòng buồn rười rượi, mới đó mà thắm thoát đã 3 năm Tùng nằm yên dưới lòng đất lạnh, Tùng ơi, anh vẫn sống mãi trong em, em đã hứa một đời sống bên anh thì âm dương cách trở cũng không làm cho em thay lòng đổi dạ…ba năm rồi a\h biết đó, không một ngày nào Dung không đến thăm anh, than thở, tâm tình với anh , anh không trả lời em như những ngày yêu nhau xa cũ nhưng em biết anh nghe những gì em nói, em biết anh đang nhìn em tha thiết, và anh buồn khi em từ giã ra về…cuộc đời em còn sống gượng nơi đây là chỉ mong chờ một ngày tìm gặp được mẹ cha bên nửa vòng địa cầu xa thẳm cũng như hàng ngày đến thăm anh , nhìn anh  nằm yên ngủ, một giấc ngủ dài thiên thu không trở dậy ! Đang miên man với những suy tư nhung nhớ về quá khứ trong lòng,  Dung chợt giật mình vì phía trước có tiếng gọi : Ba Mẹ chờ con với…và một cô bé tuổi chừng 12 tíu tít chạy lại bên Cha Mẹ, ông bà hôn hít cô bé ẵm lên xe với nụ cười rạng rỡ trên môi …tâm hồn Dung chùng xuống và quay quắt nhớ đến mẹ cha nơi quê hương vạn dặm, không biết còn sống hay đã vĩnh viễn chia xa !
Hồi ức Dung sống dậy như chuyện mới hôm qua, hồi đó Dung cũng có Mẹ có Cha, năm 12 tuổi nàng cũng sống cảnh êm đềm hạnh phúc bên gia đình thân thương, Cha Mẹ lúc nào cũng nuông chiều yêu thương nàng. Bỗng một ngày không ai ngờ trước được, chiến tranh lan tràn thôn xóm, Dung thất lạc mẹ cha, chạy theo đoàn người tị nạn chiến tranh, trôi dạt về vùng đất khô cằn, sỏi đá sống nhờ vào tình thương của những người cùng chạy nạn với nàng. Từ đó cuộc đời Dung như khôâng còn ý nghĩa, năm năm trời vất vả gian nan Dung đã lớn khôn trong sự tủi hờn, nghèo đói, trong nỗi cô đơn cùng cực, và vào một đêm mưa to gió lớn Dung nghe có tiếng người chạy rần rật bên ngoài , họ ào vào nhà kéo tuột Dung ra khỏi nhà, nói gấp gáp :
-         Đi, đi mau lên !
Dung ấm ớ :
-         Đi đâu hả bác Ba, cô Tám ?
-         Đi vượt biên – Bác Ba trả lời
Dung lo sợ :
-         Cháu không đi đâu, cháu sợ lắm, hơn nữa cháu không có tiền để trả họ
Cô Tám ngắt lời :
-         Tiền bạc gì mà lo, có ông bà chủ Phát Ngân và hai cậu con trai lo tất cả rồi, đi mau đi em…
Dung đưa mắt ái ngại nhìn ông bà chủ Phát Ngân và hai người con trai đang tươi cười gật đầu chào thân thiện với nàng, trong lòng thấy vững tin, nàng lên tiếng cảm ơn  và thu xếp vài bộ áo quần theo chân ho, ï một chuyến đi bất ngờ, một chuyến đi định mệnh…Lần cuối nhìn lại quê hương trong màn đêm dày đặc, nơi đó cha mẹ nàøng không hiểu sống chết ra sao vì từ  5 năm trôi dạt nàng không tìm được một tin tức gì về mẹ cha nàng ! nước mắt Dung tự nhiên tuôn trào như một lần vĩnh biệt người thân yêu, vĩnh biệt quê hương yêu dấu … Một bàn tay nắm nhẹ vào cáùnh tay Dung kéo vội đi, một giọng nói nhẹ nhàng trầm ấm :
-         Cô đừng lo, Cha Mẹ tôi là tỷ phú nơi đây, chuyến đi này có quan chức địa phương lo hết rồi , cô cứ yên tâm theo chúng tôi…
-         Xin cảm ơn anh thật nhiều, nói xong Dung thoăn thoắt theo chân người thanh niên là con trai ông bà Phát Ngân và đúng lúc ấy một loạt súng nổ liền 3 phát, trước mắt Dung là 2 chiếc ghe nhỏ chờ sẵn – Đoàn người khoảng 25 người tranh nhau leo lên 2 chiếc ghe nhỏ, tách bờ ra khơi….Trong ánh đèn mờ mờ của chiếc ghe, Dung nhìn lén mặt người thanh niên, với sống mũi cao, gương mặt vuông chữ điền, biểu lộ tính hiên ngang trung thực và đầy nghị lực, tự nhiên mọi lo lắng tiêu tan trong lòng Dung, nàng e lệ mĩm cười vì thoáng qua trong hồn một cảm tình vương vấn nhẹ nhàng như mặt hồ đang gợn sóng li ti, nàng mơ ước chuyến đi định mệnh này sẽ đưa nàng đến một chân trời đầy hương hoa rực rỡ.
Chiếc tàu lớn đang đợi sẵn , từng người tuần tự lên như không sợ hãi mộät ai bắt bớ, đúng là có sự bảo vệ an toàn cho chuyến vượt biên này, Dung yên tâm ngồi xuống và nhắm mắt lại thả hồn về cha mẹ, con xin  mẹ cha tha lỗi cho con , nếu trời thương con đến được bến bờ tự do, con sẽ trở về tìm ra Cha mẹ và chúng ta sẽ đoàn tụ với nhau ! những ngày lênh đênh trên biển, người thanh niên con ông bà chủ luôn kề cận và săn sóc nàng , lo cho nàng từng miếng ăn thức uống, không ngớt hỏi han an ủi nàng, Dung cảm thấy một tình cảm thương yêu đang nẩy nầm trong tim, nàng cầu xin mau chóng đến bến bờ để ước mơ thành sự thật…
Tàu chạy được bảy ngày đêm ròng rã thì gặp hải tặc Thái Lan, chúng bắn súng thị oai bảo tàu dừng lại, bọn người tị nạn trên tàu hốt hoảng không biết phải làm sao ? Bọn hải tặc ép sát tàu chỉa súng vào mọi người, trên tàu không có vũ khí chống đỡ, đàn ông bị bọn hải tặc vứt xuống biển, đàn bà bị chúng hiếp dâm, xéù toang quần áo, cảnh tượng hỗn loạn thô bỉ xãy ra trước mắt Dung…lúc đó mọi người chạy tán loạn, mạnh ai lo mạng sống của mình, bọn hải tặc đứng ngay trước mặt, không ai còn có thể giúp đỡ ai được nữa…Dung sực nhớ cái miệng khoang thuyền, nơi hàng đêm người thanh niên lo sẵn một chiếc chăn ấm đưa nàng vào đó ngủ qua đêm, Dung chạy vội đến miệng khoang thuyền chui nhanh vào, tim nàng như muốn ngừng đập khi bàn tay chạm phải một người đang ngồi trốn trong đó, Dung chồm người định chạy ra ngoài nhưng người ngồi trong đó đã kéo nàng ngồi lại và đưa tay bịt miệng nàng khi nàng hoảng hốt định la bởi trong lỗ hang miệng khoang thuyền tối tăm không nhìn thấy gì cả…Dung hồi hộp lẫn lo sợ đến chết điếng, lo lắng lũ hải tặc bước đến miệng khoang tàu thì tính mạng chẳng ai còn.  Điềàu lo sợ ấy cũng không tránh khỏi, chúng la hét ầm ĩ tìm đến miệng khoang tàu lôi nàng và người đàn ông ra, người đàn ông té xấp xuống mạn thuyền , bọn hải tặc nả liên hồi những phát đạn vào ông ta, còn Dung thì chúng chồm đến xé toang quần áo, đè xuống khoang thuyền hãm hiếp, thõa mãn xong thú tính chúng cầm dao mã tấu rạch nát bộ ngực trắng hồng của Dung, lúc ấy người đàn ông tỉnh dậy vung đôi tay dựt con dao mã tấu văng khỏi tay tên hải tặc và ông gục xuống bởi vết thương hai chân quá nặng, bọn ác ôn một lần nữa dùng con dao đó chặt đứt đôi cánh tay của ông ! Dung rú thêm thãm thiết vì vừa nhận ra người đàn ông đó chính là người con trai của ông bà chủ Phát Ngân, người đã dìu dắt lo lắng săn sóc nàng bao ngày qua trên đường vượt biển ! Đôi ngực máu đỏ tuôn tràn nhưng Dung không đau đớn bằng nhìn người thanh niên kia ngất lịm trên vũng máu với hai tay bị chặt đứt nằm lăn lóc bên cạnh – Dung không còn khóc được nữa, máu ra nhiều quá và nàng cũng ngất lịm đi…
Khi Dung tỉnh dậy, ngơ ngác nhìn bốn xung quanh, người anh cả con ông bà chủ Phát Ngân và là anh trai của người thanh niên bị bắn và bị chặt đôi cánh tay trên khoang thuyền đêm qua, nàng mường tượng thời gian vì không còn biết là đã mấy ngày qua rồi, người anh bước lại gần Dung khóc nức nở và thuật lại sự việc xãy ra trên tàu cho nàng biết cặn kẽ :
-         Cô Dung, cô tỉnh lại tôi mừng lắm, chuyến tàu vượt biên đầy máu và nước mắt này đã khiến tôi thành kẻ mồ côi, em trai tôi thành tàn phế nặng nề, cô thì tàn một đời hoa ! ôi đau đớn quá cô ơi !
Dung lặng người không nói được, lát sau nàng cố gượng hỏi người anh :
-         Trời ơi ! ông bà chủ…trời ơi, em trai của anh…còn bao nhiêu người trên tàu ?
-         Không còn một ai, chúng xô cả xuống biển sâu kể cả những đàn bà bị chúng hãm hiếp, tôi may mắn thoát chết là vì tôi có mặc theo mình chiếc áùo phao, khi tình thế hỗn loạn tôi cặp theo bờ thuyền núp dưới nước nên thoát được …tôi không thấy được hết những gì xãy ra trên tàu chỉ nghe tiếng người rớt xuống biển và tiếng khóc la vang dậy, một lát sau có chiếc chiến hạm đếán và lũ hải tặc vội vàng lên ghe của chúng chạy hết . Tôi mon men leo lên tàu, trước mắt tôi chỉ còn hai xác chết nằm bất động, cô và em trai tôi – Tôi khóc ngất lên khi biết cha mẹ và tất cả đã chìm dưới lòng đáy biển , em trai đã chết không toàn thây và cô cũõng đã chết ! Tôi la gào thật to, tôi khóc thật to… chiến hạm đã dừng sát chiếc tàu và vài người nhảy qua hỏi tôi tự sự, tôi run rẩy thuật lại sự việc xãy ra, họ vội đến bên hai xác người, lật ra và bế xốc lên chiến hạm, đồng thời kéùo tôi cùng lên chiến hạm của họ – Họ bảo tôi yên tâm, họ sẽ cứu mạng hai người sắp chết này và cho tôi ăn mẫu bánh mì , uống một ly sữa bảo tôi nhắm mắt ngủ, họ cho tôi bộ quần áo để thay, đắp cho tôi tấm chăn thật ấm vì tôi đã ngâm mình dưới nước suốt hai giờ liền – Họ rất tốt, họ đã cứu sống cô và em trai tôi, nhưng đau đớn quá cô ơi, em tôi chỉ còn là một khúc cây biết nói biết khóc mà thôi !
Dung đau lòng tột độ, nàng biết người thanh niên tốt bụng kia đã vì nàøng màø ra nông nỗi, nếu nàng không chui vào chỗ ẩn nấp của anh ấy thì dễ gì ai phát hiệän ra, nếu không vì lương tâm đạo đức khi đang nằm trên vũng máu đào vẫn hiên ngang dựt con mã tấu trên tay tên hải tặc thì anh đâu phải mất đôi cánh tay – tất cả quá lớn lao cho cuộc đời nàng, quá ân sũng cho cuộc đời nàng, Dung phải làm sao đây để đền đáp trong muôn một … Nàng chỉ biết khóc và khóc thật nhiều , cuộc đời nàng đau thương gian khổ đã nhiều nhưng chưa bao giờ tàn khốc như ngày hôm nay. Một khúc gỗ chỉ biết khóc , trời ơi, trời ơi …
Ba tuần sau Dung được xuất viện và được người anh chăm sóc cẩn thận – nàng đã hồi phục sức khỏe, người anh và nàng được chu cấp hai phòng kế bên nhau trong một gian nhà 40 căn  dành cho gia đình binh sĩ chiến hạm Hoa Kỳ – Điều mong ước đầu tiên của Dung là xin người anh cho nàng đến thăm người em đang còn nằm bệnh viện – trên đường đến bệnh viện Dung hỏi tên người anh và tên người em để tiện bề xưng hô khi gặp mặt người em – nàng được biết người anh tên Thông, người em tên Tùng – Đến nơi Dung lảo đảo tưởng như sắp quỵ xuống nền gạch, Tùng chỉ còn là một khúc cây với đôi mắt đẫm lệ ! Dung ôm chặt lấy Tùng hứa với chàng suốt cuộc đời còn lại Dung sống cho Tùng, chăm sóc Tùng, thương yêu Tùng vì chỉ có Tùng mới là lẽ sống cho Dung, một người phụ nữ vô phần và bất hạnh !!!
Thắm thoát rồi Tùng cũng đến ngày xuất viện, sáu tháng qua không ngày nào Dung không đến thăm Tùng, nước mắt khổ đau của hai người đã chan hòa cho nhau, họ đã thật sự hiểu và thương yêu nhau – Sáu tháng qua, nhiều lần Thông tỏ tình yêu thương Dung nhưng đều bị nàng từ chối, tâm hồn Dung quả là một thiên thần, tình cảm Dung là một tấm gương sáng ngời nhân thế . Ngày mai chuẩn bị cho Tùng về nhà, Thông nhẹ nhàng nói với Dung :
-         Dung à ! anh thật tình yêu Dung, thời gian gần gũi anh không thể dấu lòng, em đừng mặc cảm gái hư rồi vì hải tặc – tai họa chứ nào phải tại em ? Thương em không hết mà Dung, anh và em sẽ chăm lo cho Tùng chu đáo và cả ba chúng ta sống nơi đây một thời gian nữa, chính phủ Hoa Kỳ sẽ nhận chúng ta vào Mỹ.
Dung trả lời thẳng thắn :
-         Không đâu anh Thông – Dung đã nguyện một đời sống chết bên Tùng – ân tình anh ấy dành cho em lớn hơn cả núi non – cao hơn cả mọi thứ trên đời – em yêu anh ấy ngay từ khi gặp gỡ ban đầu trên chuyến vượt biên – xin anh hiểu cho em – chỉ có Tùng mới là nguồn sống của em, anh hai ơi, xin anh nhận nơi em một lạy này gọi là đền đáp ân tình của anh, một lạy này nữa để xin từ chối tình  yêu của anh, em luôn quý trọng anh, xin anh giữ mạng sống cho Tùng, anh hiểu mà, Tùng sẽ chết khi không còn có em bên cạnh, em mong đến ngày vào Mỹ chúng em sẽ tổ chức đám cưới, chàng rể ngồi trên chiếc xe lăn và cô dâu đứng sau lưng ôm choàng chàng rể, em tin chắc chưa có một đám cười nào như thế, hãnh diện cho em, sao ta không làm những việc mà thiên hạ không làm được hở anh hai ?
Thông nghẹn họng không dám nói gì nữa, lặng lẽ cùng Dung lái xe đến bệnh viện đón Tùng về, Tùng được cấp một xe lăn loại rất tối tân nên chàng xê dịch qua lại rất dễ dàng – Dung dành được ở bên Tùng chăm lo, Thông ở phòng bên kia – Đêm đêm Thông qua phòng Tùng ở đến gần sáng, những ánh mắt , những ngôn từ bóng gió những cử chỉ tha thiết ân cần của Thông dành cho Dung không qua được cặp mắt của Tùng, chàng đau khổ âm thầm và chỉ biết khóc những lúc Thông đã về phòng riêng và Dung mệt mỏi ngủ say bên cạnh chàng.
“ Anh có còn gì đâu mà làm khổ đời em, Dung ơi”…lời nói nhẹ như hơi gió thoảng, nước mắt Tùng tuôn trào ướt đẫm khuôn mặt Dung, nàng giật mình tỉnh dậy hoảng hốt ôm lấy Tùng, an ủi chàng mọi lẽ vì cho rằng chàng đau đớn cho tấm thân tàn phế thảm thương kia chứ nào biết đâu từ tận cùng sâu thẳm trái tim đang rướm máu từng cơn, Dung đâu biết là Tùng đã hiểu chuyện tình cảm của Thông dành cho Dung – còn gì để anh sống nữa Dung ơi, thân anh không còn là con người, tim anh đang dãy chết…Tùng gục xuống bên Dung nghẹn ngào tức tưởi !
Một tháng sau cả ba người được chính phủ Hoa Kỳ làm thủ tục nhận vào nước Mỹ, được chính phủ cấp cho một căn nhà 3 phòng tại vùng Bắc Cali, Thông đi làm cho một hãng Tiện, Dung đi làm cho một hãng Điện Tử – ngày ngày họ thay phiên nhau săn sóc cho Tùng – Một hôm Tùng lâm trọng bệnh, cơn sốt hoành hành thân xác, chờ mãi cũng không thấy anh và vợ về như mọi ngày – đã 9 giờ đêm Tùng suy nghĩ  mãi không hiểu vì sao cả hai không về như thường lệ, đầu óc quay cuồng không còn tỉnh táo… Tùng cố xê dịch chiếc xe đến bên tủ thuốc , chàng lắp chiếc tay giả vào mà từ khi được cấp đến nay chàng không hề xử dụng bởi bất tiện vì chàng không thể lắp vào một mình, chàng gắn sơ cánh tay mặt vào rồi với tay lên tủ thuốc lấy nguyên típ thuốc an thần của Dung uống cạn, Tùng viết lại mấy dòng nguệch ngoạc trước khi lìa xa cõi trần đau thương, lìa xa Dung yêu quý và anh Thông người anh một mực kính thương của Tùng…viết xong Tùng bỏ chiếc tay giả ra và nước mắt tuôn trào !
“ Dung yêu quý ! anh đi đây, điều anh mong ước duy nhất là em đừng khóc để anh đi được nhẹ nhàng, em ơi ở đời đâu ai khen một cặp rể dâu tật nguyền mà đẹp đôi, mà xứng lứa, anh mong sau khi anh đi rồi em hãy cùng anh Thông có một đám cưới và chung sống bên nhau thật hạnh phúc” Tùng khóc nức nở và lịm dần vào cõi hư vô…bên ngoài có tiếng xe cứu thương ngừng ở cửa, họ dìu Thông vào nhà, chàng sơ ý trong lúc làm việc nên bị máy tiện dập đứt một bàn tay đã băng bó xong từ bệnh viện Basscom trở về – Thông bước lần đến kêu Tùng dậy, chàng ngỡ ngàng khóc ngất , lá thư tuyệt mệnh của Tùng, trời ơi, em tôi !!! Tùng đã chết , tim đã ngừng đập, nước mắt còn ướt đẫm trên má trên mi , chan hòa trên ngực áo – Dung từ ngoài bước nhẹ vào như những lần nàng đi làm về sợ phá giấc ngủ của Tùng, hôm nay là lần đầu tiên nàng làm thêm giờ overtime vì hãng có nhiều hàng cần gấp – Dung nhìn thấy anh Thông đứng chết sững, Tùng thì nằm bất động, nước mắt ràn rụa trên thân người lạnh ngắt ! Lá thư kia… Dung chết lặng , xung quanh nàng bầu trời tối xẫm lại, nàng té xuống nền gạch và không còn biết gì nữa !…

vào lúc: 09/08/09, 10:34 7 Khu Phố Văn Hoá / Văn xuôi / ĐÔI BỜ…XÓT XA

Tùy bút : NGUYỄN PHAN NGỌC AN


                       
  ĐÔI BỜ…XÓT XA


Vào cuối thu khí hậu có phần mát mẻ dễ chịu, Hương bước ra phía ngoài hành lang hóng gió, nàng thấy trong lòng phơi phới thay cho một ngày nhọc mệt hôm qua…Hương thầm ao ước : Phải chi cha mẹ nàng ấm êm hạnh phúc thì đâu có cảnh nàng sống riêng với cha còn mẹ phải sống riêng với đứa cháu của nàng !
Hương thương yêu cha mẹ đừng đành bó tay không giải quyết được gì vì cha mẹ nàng đã sống ly thân khi nàng mới lên 10 tuổi. Mẹ nàng, một người đàn bà phúc hậu nhu mì luôn luôn chịu khó chịu cực vất vả buôn bán nuôi đàn con dại. Nàng có hai chị gái, một anh trai, một em trai, cha nàng trước đây là Phó giám đốc Hải Quân Công Xưởng tại tỉnh Gia định, thành phố Sài Gòn. Đã một thời ông du học nước ngoài nên ông nói được 5 thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nhựt, Trung Hoa rất lưu loát. Bây giờ ông đã trên 70, thỉnh thoảng ngồi nhắc lại dĩ vãng ông ngậm ngùi nuối tiếc và buông chuỗi thở dài áo não…
Năm 1962, một năm kỷ niệm đau buồn cho gia đình Hương. Cha mẹ ly thân, người chị thứ hai của Hương qua đời sau cơn bệnh hơi lạ thường. Chị thứ hai của Hương năm ấy vừa tròn 18 tuổi, sau hai hôm chị bệnh trên gò bàn chân nổi lên một cái mụt nhỏ bằng đầu đũa, mẹ nàng không đem chị vào bệnh viện chữa trị lại nghe hàng xóm mách bảo đem chị đến một thầy lang để thổi bùa. Ba ngày sau bệnh không thuyên giảm và chị đã trút hơi thở cuối cùng vào giữa trưa ngày 6/2/1962. Lúc ấy cha nàng đang làm việc ở Sài Gòn, anh trai nàng thì đang đi thi Trung học Đệ nhất cấp tại Bình Long…Gia cảnh đơn chiếc chỉ còn chị cả, mẹ và Hương cùng cậu em út vừa lên 7 tuổi. Chiều hôm đó được tin chị mất cha tức tốc về nhà, còn anh trai nàng ngày hôm sau cũng về đến.
Ngày lễ an táng chị tại nghĩa địa Việt Hoa, không hiểu vì sao ông thầy tụng kinh tự tay ném cả gói đồ nào là tượng phật, chuông mõ, hương đèn xuống mộ chị…đến khi đất đã lấp cao ông sực nhớ vội xăn tay áo toan dùng cuốc đào mộ lên để lấy lại những vật quý đó. Cha Hương vội ngăn cản :
- Con tôi đã chết rồi ! xin ông hãy để nó được nằm yên
Ông thầy tức tối lồng lộn nhưng cũng phải khuất phục vì tất cả mọi người không ai cho ông làm việc thất đức đó !
Hàng đêm hồn chị hiện về khóc lóc thảm thương trước hàng cây trứng cá trước hiên nhà, hàng xóm đã nhìn thấy nhiều lần và chính Hương cũng đã thấy, mẹ đi xem thầy họ bảo :
- Số nữ này không phải người của dương gian, cô ấy là tiên bị đọa, cô ấy trong sạch đến phút về trời xin đừng đau khổ mà hãy cầu nguyện thật nhiều cho cô ấy được nhẹ nhàng về cõi Phật…
Hương ngồi thật lâu trên bục cửa, nàng cố động não để nhớ về những hình ảnh xa xưa mà thời gian khó thể xóa mờ trong ký ức…Gió chiều hiu hiu thổi, những làn hơi buốt lạnh bắt đầu thấm vào da thịt, Hương mơ màng gởi hồn về cõi xa xăm ngày cũ…
Ngày ấy, chị thứ hai của Hương vừa tròn 15 tuổi, trong lớp học mà cha nàng vừa là giáo sư vừa là Hiệu trưởng có một chị tên Thiên Hương vừa bị bệnh qua đời. Các bạn báo tin, vì có nghịch ý nên chị hai cuả nàng trả lời hờ hững “ vậy hả, kệ họ”. Cha nghe được câu này dùng đòn gánh đánh chị đến ngất xỉu, bao nhiêu người can ngăn cha vẫn không hả giận còn quất luôn cả vào họ…Sau trận đòn thập tử nhất sinh chị ngã bệnh đến hai tháng sau mới khỏe. Chị là trụ cột của gia đình, hàng ngày chị phải vào vườn chặt củi, hái trái cây mang ra chợ bán, chị phải gánh một ngày cả mấy chục đôi nước cho gia đình nấu nướng tắm giặt mà gót chân chị vẫn đỏ như son, mẹ thường đùa với chị :
- Xuân Hương à ! Con làm việc vất vả quá mà sao gót chân cứ đỏ như son, mẹ tưởng tượng con là tiên chứ không phải người phàm Xuân Hương ạ !
Chị bật cười khanh khách :
- Mẹ nói lạ, con là con của mẹ mà ! Nếu con là tiên con phải về trời phải không mẹ ? nhưng mà con không thích về trời đâu vì con thương mẹ và em Giáng Hương lắm. Nói rồi nước mắt chị ứa ra, Giáng Hương cũng òa lên khóc, mẹ thì sụt sùi lấy khăn tay lau nước mắt !
Bây giờ chị đã nằm yên dưới lòng đất lạnh, mười tám tuổi xuân không có một mối tình, không có người yêu. Chị không đẹp lắm nhưng trắng trẻo tươi mát, hồn nhiên như ánh trăng rằm, rạng rỡ như nắng hồng giữa buổi bình minh. Chị không vướng nợ trần ai, không vướng mắc tình yêu để nhẹ nhàng về cõi phật…Hồn chị giờ này phiêu dạt nơi đâu ? Chị có thấu hiểu cho em, Giáng Hương thương nhớ chị vô cùng ! Nàng gục đầu vào đôi bàn tay nức nở, màn đêm đã phủ kín không gian tự bao giờ !
Sáu năm sau ngày Xuân Hương mất, Giáng Hương đi lấy chồng, người nàng lấy không phải là người nàng yêu…Năm 16 tuổi nàng quen một người sĩ quan không quân nhân dịp nàng đi thăm các tiền đồn và ủy lạo chiến sĩ cùng phái đoàn. Nơi đây nàng đã gặp Hiển, một thanh niên người Bắc trang nghiêm thanh tú – Trên chuyến bay định mệnh chàng phi công đã xúc động khi đỡ nàng lên phi cơ, Giáng Hương tha thướt trong chiếc áo dài Cristal màu đỏ bó sát thân, Giáng Hương đã bắt gặp ánh mắt say đắm của Hiển trao gởi nàng làm Hương choáng ngợp. Giáng Hương còn nhớ rõ, lúc ấy Hiển chuyền tay lái lại cho phi công ngồi bên, chàng bước đến chỗ Hương trò chuyện, phi cơ ồn quá Hương không nghe được gì, Hiển rút trong túi ra một mảnh giấy trắng, dùng bút để viết chuyện trò với Giáng Hương – Hương và Hiển trao đổi qua những dòng chữ chứa chan tình cảm, hồi đó tự dưng Hương viết trong giấy tên mình là Trang Thiên Tâm, cái tên mà Hương thích từ lâu, nghỉ rằng sau này có cơ hội làm gì đó sẽ dùng tên này là bút hiệu – Phi cơ từ từ hạ cánh, đã về đến phi trường Vũng Tàu, Hương bâng khuâng giây phút rồi nhẹ nhàng bước ra khỏi phi cơ, Hiển vội vã bước theo nàng, cầm tay Hương hôn nhẹ, chàng xin Hương địa chỉ, Hương vui vẻ chập nhận cho chàng địa chỉ, trong lòng Hương đang dâng lên một cảm tình rào rạt, Hiển khôi ngô tuấn tú, điềm đạm và thừa lịch sự với phái nữ…
Từ sau ngày đó, Hiển thường xuyên thư từ và đến nhà thăm Hương, chàng mang những món quà từ Đà Lạt về tặng nàng – Trong niềm trân quý chân thành Hiển và Hương đã yêu nhau tha thiết, chàng mời Hương đến gia đình thăm mẹ và chị gái của chàng.
Rồi đông qua, xuân sang, hạ đến, chàng biền biệt tăm hơi, người con gái ngây thơ đã thấm thía nỗi đau của tuổi đầu đời ! Nàng quên ăn bỏ ngủ, đêm chong đèn thao thức suốt năm canh…Hiển ơi, sao anh nỡ phụ em, anh nỡ bỏ em, em nào có tội tình chi để cho anh phụ bạc ? Đã nhiều đêm Hương khóc thầm, khổ đau đã khiến nàng trở nên lầm lì ít nói, còn đâu vẻ hồn nhiên nhí nhảnh ngày nào…Nàng bắt đầu mượn thơ làm bạn, mượn trăng làm đèn hầu vơi bớt nỗi ưu phiền đang trĩu nặng lòng riêng…
Tưởng đã yên với những bất hạnh đầu đời, nhưng rồi định số an bài, nàng quen Quang, một sĩ quan của trường tình báo. Quang hết lòng yêu mến Giáng Hương và xin cho bằng được để cưới nàng – Hương từ chối vì chưa quên được Hiển, một chiều Hương nhận được một lá thư Quang gởi về nội dung “ Đời binh nghiệp anh không biết được ngày mai còn mất, xin Hương bằng lòng cho anh làm lễ hỏi rồi chừng nào em cho phép dù là mấy năm sau mới tổ chức đám cưới anh cũng bằng lòng – nếu em từ chối lần này nữa thì coi như cuộc đời anh đã đi xuống vực sâu, anh sẽ chờ Hương đến thăm anh, nếu em thương anh thật tình và đồng ý lời cầu xin của anh, trên tay em sẽ cầm một trái chanh màu xanh, bằng ngược lại trên tay em sẽ cầm một chiếc khăn màu đỏ, như thế anh sẽ hiểu được ý em và Hương ơi anh sẽ chết”… Hương đọc thư nước mắt rưng rưng, nàng cầm lòng không đặng rủ Xuân Mai cùng xóm đi tiền đồn thăm Quang, đến nơi nàng không cầm gì cả nhưng Xuân Mai đã đọc thư của Hương nên khôn khéo cầm theo trái chanh màu xanh, đến cổng quận Xuân Mai tung trái chanh lên trời, Quang đã thấy và mừng rỡ ra tận cửa quận đón hai người vào – Mặt Quang còn đỏ bừng vì men rượu đêm qua, chàng tưởng Hương tuyệt tình nên vùi đầu vào men rượu để tìm quên…
Một tiệc cưới linh đình vào giữa mùa thu 25/8 Âm lịch, ngày lên xe hoa cũng là ngày xót xa nhất, Giáng Hương đã khóc thật nhiều cho mối tình đã mất, tất cả chỉ còn dư âm chua chát mà thôi  ! Hiển ơi, giờ này anh ở đâu ? chắc anh đang hạnh phúc ấm êm với người trong mộng ước…riêng em, ngày hạnh phúc cũng là ngày tan nát cõi lòng em ! Quang vô tình chẳng hiểu nỗi đau sâu kín của Hương, chàng liên tục nhảy đầm với các cô dâu phụ, điều đó đã làm Hương bất mãn và tự nhủ thầm “ mặc kệ, ra sao thì ra”…
Quang là sĩ quan trẻ, năm ấy vừa tròn 25 tuổi, Giáng Hương 17 tuổi. Sống với nhau một thời gian Hương mới rõ Quang ăn chơi bay bướm không thiếu món gì, tính tình thì nóng nảy hung hăng và ngạo mạn đã vài lần làm phiền lòng cha mẹ Hương. Nàng khổ tâm quá, nàng đã tự rước tai họa cho mình vì với bản chất Quang nàng sẽ là người bất hạnh !
Chuông reo ngoài cổng, người đưa thư mang đến cho nàng một lá thư…Nhìn nét chữ quen thuộc ngoài phong bì Hương giật bắn cả người…Thư của Hiển… Nàng vội vàng xé bao thư và hấp tấp đọc như sợ ai giành mất của mình – Bỗng Hương khóc nức nở chạy nhanh vào phòng đóng sập cửa lại …Quang đi công tác xa, Hương về chơi với cha mẹ nên mới may mắn nhận được lá thư này – Muộn màng rồi Hiển ơi, em nào có biết nỗi cay đắng cuộc đời anh hơn một năm qua, em tưởng anh đã phụ em rồi ! Nào ngờ phi cơ trúng đạn và anh sa vào tay giặc, bây giờ anh vượt ngục về với em thì hỡi ơi còn gì nữa đâu ngoài tấm hình hài phản bội trên xác thân mục nát tủi hờn…Nàng nghĩ đến cái chết ! Đúng, chỉ có cái chết mới nguôi được niềm đau và chuộc tội cùng chàng. Xin hãy tha thứ cho em !
Tiếng gõ cửa nhè nhẹ, Hương uống vội 10 viên thuốc ngủ xong ra mở cửa cho mẹ vì nàng biết giờ này mẹ chờ nàng ra ăn cơm tối – mẹ nhìn Hương lo ngại, sắc mặt bơ phờ thiễu não của nàng làm mẹ lo lắng…Mẹ hỏi Hương không trả lời mà chỉ khóc, những giọt lệ thương đau kia cũng chẳng vơi được nỗi chất chứa trong lòng Hương – Mẹ ơi, chỉ khoảnh khắc nữa thôi con chẳng còn nhìn được mẹ thân yêu, chẳng nói được một lời nào nữa ! Nàng khóc ngất, mẹ sinh nghi la hoảng lên gọi xe đưa nàng vào bệnh viện…Thế là nàng lại sống, một cuộc sống ngục tù, một cuộc sống mong manh hơn loài cỏ dại mang trên mình bản án phụ tình…
Lá thư thứ hai Hiển gởi về sau khi Hương trả lời dối chàng là cha mẹ sắp đặt chuyện hôn nhân nên xin chàng tha tội và xin hẹn kiếp lai sinh trùng phùng…Lời thư đầy khổ đau báo hung tin người anh tử trận tại Long Thành,  “ trong một lúc mà trái tim hai lần tan vỡ, anh chết, người yêu phụ bạc, tôi có còn gì đâu là niềm tin để sống, đã mất em vĩnh viễn rồi ! Tâm ơi, đây là lời nói cuối cùng và cũng là lá thư cuối cùng ! vĩnh biệt em…”
Một  đêm kia trời nổi cơn bão lớn, sấm chớp rền vang cả một góc trời, Hương thu mình co ro trong chiếc chăn run rẩy…cũng mưa gió như mọi lần sao hôm nay nàng thấy khác lạ, lo sợ hồi hộp vô cùng ! Đã lỡ kiếp tằm trong bến đục, chỉ còn mong tái tạo cõi lai sinh, nàng nửa mê nửa tỉnh thiếp dần trong giấc ngủ cô đơn…
Hiển mở cửa bước vào, chiếc áo trận dính đầy máu đỏ, chàng lặng lẽ nhìn Hương trong giấc ngủ chập chờn, đưa tay vuốt nhẹ tóc nàng, đặt lên mái tóc một nụ hôn buồn rồi âm thầm bước ra cửa…Chàng đã đi, đi thật xa…Hương choàng tỉnh, nàng hoảng hốt tông cửa chạy ra sân. Bầu trời tối đen như mực, sấm chớp vẫn lập lòe, cả không gian đang chìm ngập trong biển đêm ghê rợn ! Hương rùng mình sợ hãi chạy vội vào nhà, rõ ràng nàng vừa gặp Hiển trong mơ – chàng đã gặp việc chẳng lành, máu thấm đỏ chiến y, chàng không nói một lời nào, đôi mắt buồn vời vợi…
Sáng hôm sau Hương tức tốc về Đà Lạt tìm tin tức Hiển, gia đình cho biết chàng đã rớt máy bay trong một phi vụ và không tìm thấy xác ! Hương đau đớn tột cùng, nàng tưởng tượng vừa gây ra tội ác…Hiển chết là hết tất cả rồi ! nàng không còn cơ hội chuộc lại tội phụ tình, muôn thuở không còn gặp mặt người yêu !
Chị của Hiển trao cho Hương một phong bì dán kín – Nàng mở ra xem, dòng mực còn mới nguyên, nét chữ thân thương còn đây mà anh giờ đã ra người thiên cổ ! Hương còn biết than thở cùng ai cho vơi bớt cơn bão lòng đang dâng lên ngùn ngụt ! “ Em chối bỏ tình tôi vì chữ hiếu, hay vì tôi không xứng đáng để em yêu, hay vì tôi là kẻ đến buổi chiều, chậm chân bước người kia về buổi sáng, bao nhiêu mộng tan vào mây khói trắng, bao nhiêu mơ chấp cánh vút xa rồi, tình yêu đó còn gì nữa em ơi, Vũng Tàu, Đà Lạt ngàn đời chia ly…” Hương gục xuống ôm ngực, hậu quả ngày nay là do nàng gây ra, nàng không thể phủ nhận điều đó ? Đã vay thì phải trả, nàng biết suốt cuộc đời còn lại nàng sẽ chẳng bao giờ tìm được tình yêu !…
Sau ngày được tin Hiển mất, Hương như người vừa rớt xuống vực sâu, thoi thóp từng giờ, lúc nào cũng hình dung Hiển đang bên cạnh trách hờn bằng đôi mắt lặng buồn ! Hương không chịu nỗi với những đêm dài vô tận, nàng không sao ngủ được…Hình ảnh người yêu cứ chập chờn đâu đó, nàng vùng dậy trong đêm khuya mượn bút mực trải niềm u uất, nàng làm thơ cho Hiển, cho người tình muôn thuở của nàng – Những bài thơ từ tận cùng trái tim nàng gởi qua vài tờ báo – Tờ Phụ Nữ Diễn Đàn và tờ Phụ Nữ Ngày Mai do bà Bút Trà là chủ nhiệm, đã đăng những bài thơ thương tâm đó, lúc đầu nàng dùng bút hiệu Trang Thiên Tâm, nhưng nàng đau đớn khóc hoài nên nàng đổi lại là Uyên Thi…
Ba tháng sau đó Quang buộc nàng phải theo chàng ra sống nơi đơn vị mới, một tỉnh lỵ nhỏ nhoi xa lạ và buồn tẻ – Trong cuộc đời mới nàng đã gặp lắm bão giông, đã đo lường được trái tim Quang và bản chất của chàng…Hương biết chắc sớm muộn gì nàng cũng phải chia tay !
Năm 1971, người chị cả của Hương qua đời, được tin như sét đánh Hương bàng hoàng khăn gói về quê để kịp đưa tiễn chị lần cuối cùng ! Chị hạ sanh bé gái được hai hôm, hoàn cảnh đơn chiếc, anh rể tối ngày lân la rượu chè lại thêm tật bồ bịch lăng nhăng – anh ta đi suốt đêm đến sáng mới về, chị nghe mấy con heo trong chuồng đói la suốt đêm nên cằn nhằn anh rể, anh ta lớn tiếng gây sự và thách thức, chị tức lên máu sản hậu chận và chị đã tắt thở sau 5 ngày nằm bệnh viện…bỏ lại 4 con thơ, đứa nhỏ nhất vừa tròn một tuần tuổi !
Anh rể họ Trần … nhẫn tâm mang tình nhân về ngủ trong phòng khi xác chị vừa nằm yên trong lòng đất được 3 hôm. Hồn linh vất vưởng chị hiện về báo oán, chị bẻ tay mụ tình nhân và nói rằng : “ Vì mầy mà con tao khổ, vì mầy mà tao xác phải lìa thân” mụ ta hoảng vía kinh hồn xúi ông anh rể bán nhà dọn hết đồ đạc đi nơi khác…
Ngày giỗ thất tuần của chị, anh rể bưng một mâm trầu cau xin cha mẹ vợ cho anh được tái hôn vì lý do con dại, hoàn cảnh gà trống nuôi con, nhưng thật sự mẹ ruột anh đã lãnh nuôi đứa bé mới sinh, còn 3 đứa lớn sống với bà ngoại – Người anh rể tán tận lương tâm, hậu quả phải lãnh…thời gian sau mụ vợ kế mỗi lần gây lộn là phang anh bằng ghế, bằng cây đến sứt đầu đổ máu, anh ta càng ngày càng tàn tạ, mỗi lần tình cờ gặp,  Hương thấy tội nghiệp nhưng nhớ lại chị mình chết oan uổng dưới bàn tay ác độc của anh ta, tự dưng Hương nguyền rủa “đáng đời cho kẻ bất nhân”.
Thời gian lặng lẽ trôi đi, các con của Hương đã lớn, đứa nhỏ nhất vừa tròn một tuổi thì chiến tranh lan tràn trên khắp nẻo quê hương, đâu đâu cũng sặc màu khói súng và máu người, Hương bồng bế con lánh nạn…Nàng đã trải qua biết bao cái chết, biết bao tai nạn mà có lẽ đời thường không ai tưởng tượng nổi ! Về với mẹ cha như cái xác không hồn, vá víu cuộc đời, nương tựa song thân để còn đủ nghị lực nuôi đàn con dại…nàng khổ cực thế nào cũng không than thở, chỉ mong các con khôn lớn nên người – Rồi chiến trận 30/04/1975 bùng nổ, tất cả mọi người bị vào tù cải tạo, Quang cũng thế…
Hương yên lòng với số phận đã an bài, ngày ra chợ buôn bán, chiều về lo cho con – Cuộc sống cũng tạm đủ vì Hương rất lanh lẹ tháo vát hội nhập cuộc sống mới. Lúc đầu Hương chỉ buôn bán thuốc tây lẻ, quần áo, chút ít vải vóc, sau đó nàng mở một sập vải lớn, cuộc sống khá ổn định.
Năm 1982 anh trai nàng đi tù cải tạo về, thực chất là ở tù Cộng Sản, anh hoạt bát giao tế giỏi và chịu lao động nên chỉ 6 tháng sau ngày ra tù anh được trả quyền công dân và đóng ghe hành nghề đánh cá trên biển…Ba tháng sau anh chính thức đứng tên chủ tàu và cho hai con trai của Hương làm thuyền viên tuy rằng chúng còn rất nhỏ – Năm 1983 anh cho tàu vượt biển tìm tự do mang theo hai đứa con của Hương đến miền đất hứa hầu giúp cháu mình tìm tương lai sáng sủa hơn – Trên đoạn đường đại dương muôn dặm, tưởng bao phen đã làm mồi cho cá sấu, cá voi…may thay vẫn còn hồng ân cứu mạng đưa ba cậu cháu đến bến bờ tự do…
Từ đó cảnh nhà đơn chiếc hơn, mẹ ăn chay niệm Phật tu hành sớm tối để cầu nguyện cho bá gia, cha về hưu không làm việc nữa, Hương thu xếp cho cha sống với mẹ con nàng nơi một căn nhà mới, mẹ sống căn nhà cũ với đứa cháu lên 10 con gái của người chị đã mất.
Ngày tháng lặng lẽ trôi, cây Quỳnh Hương đã mấy mùa thay lá, Dạ Lý Hương đã mấy đợt héo tàn, Hương vẫn âm thầm kéo lê kiếp tằm kéo kén nửa vời chửa xong – Niềm vui duy nhất cho nàng đủ nghị lực chống chọi với đời là mẹ, mẹ hiền hòa, mẹ từ bi nhân đức là tấm gương sáng chói lọi trong đời nàng – Hương đã là phật tử, là tín đồ lâu nay cũng là nhờ tấm gương của mẹ soi đường dẫn dắt nàng đi…
Một sáng mùa đông, sương mù còn đẫm ướt ngàn cây cỏ, một hung tin đến với nàng ! Mẹ ngã té dưới nền hoa và hôn mê sáu hôm liền. Hương hết lòng chạy lo cho mẹ nhưng đành chịu thua định mệnh – Mẹ trút hơi thở cuối cùng vào ngày 14/11/1989 Âm lịch – Mẹ ra đi mang theo bao hờn tủi vì suốt đời hy sinh cơ cực chỉ mong một điều được chết sau cha dù một năm để được đền bù, để được thơ thới tâm hồn bởi mẹ khổ với cha quá nhiều trong quãng đời chung sống !
Ngày Mẹ vĩnh viễn ra đi là ngày Hương đau đớn nhất, nàng ngất lịm dưới nền hoa bên quan tài của mẹ, nàng nghe như ai xé tim mình tan thành mảnh vụn – bầu trời như không còn ánh sáng, vạn vật chẳng hồi sinh và nàng…như chẳng còn tồn tại giữa thế gian – nàng bất tỉnh, bên tai còn nghe văng vẳng tiếng kêu cứu “ chú Đệ, dì cháu bất tỉnh, chú kêu dùm bác sĩ gấp chú ơi…”

vào lúc: 09/08/09, 10:32 8 Khu Phố Văn Hoá / Văn xuôi / ÐỊNH MỆNH , sưu tầm

Tuỳ bút : Nguyễn Phan Ngọc An 

 
                           
    ÐỊNH MỆNH

                     
Tiếng gà gáy vang vang hòa theo tiếng xe chạy rần rật ngoài lộ, anh đã thừa biết trời gần sáng…Anh tung chăn ngồi dậy nhìn đồng hồ, đã 5 giờ rưỡi, anh còn nhớ kỹ lời dặn của mẹ anh, hôm nay lúc 7 giờ sáng có chuyến tàu đi theo ngã sông Hương vượt biển. Mẹ anh đã đóng 3 cây vàng cho anh và thu xếp một ít hành trang cần thiết cho anh trong chuyến vượt biên này…Anh không thể nào quên hình ảnh người mẹ hiền từ nhân hậu, từ khi nhận thức được anh đã thấy mẹ luôn luôn thương yêu chăm sóc anh chu đáo mọi bề, anh cũng không thể nào quên được những hình ảnh phá phách của anh từ tiền bạc đến của cải do hậu quả ăn chơi quá đáng của anh, 13 tuổi anh đã đua đòi bè bạn thụt bi da cá độ, đánh bài phé, đua xe ăn tiền…Anh thuộc về hạng cậu ấm, con nhà khá giả, anh vung tiền qua cửa sổ từ khi mới 13 tuổi. Bây giờ sắp lià xa mẹ để chọn cho mình một con đường, may thì có tương lai rực rỡ, rủi thì làm mồi cho cá sấu, cá mập hay vùi thân trong trại tù giam “ Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con” Anh ta không còn con đường nào để chọn lựa…năm nay 19 tuổi rồi, học hành dang dỡ, mãi theo bạn bè con nhà giầu chơi những trò nguy hiểm, hôm tuần rồi trong cuộc đua xe thằng Tâm con chủ tiệm vàng Kim Thanh đã té xe và chết liền tại chỗ, tháng trước thằng Dũng con ông bà Viện Trưởng Viện Kiểm Sát đã gẫy một chân, thằng Hào con cô Nữ chủ lò bánh mì cũng đã vong mạng vì đua xe…anh ta vẫn còn may mắn bình yên sau nhiều cuộc đua xe chết người…Anh mê cờ bạc, mê bi da đến độ cầm bán không biết bao nhiêu là của cải của mẹ anh, có một lần anh chơi bi da cá độ với một việt kiều về nước, ỷ mình tài đánh bi da có hạng, anh cá chấp người bạn việt kiều 20 điểm, thế là sau trận giao tranh bi da lỗ, anh thua đứt 20 triệu đồng VN – Lần đó anh cầm chiếc xe Dream rồi bán đứt luôn, mẹ buồn mẹ khóc…anh hăm dọa phá nhà tan hoang ! Sau đó anh hối hận trong lòng nhưng rồi chứng nào tật nấy, anh vẫn làm mẹ khổ sỡ tiếp tục vì những phá phách của anh không có cơ may được biến đổi ! Năm 16 tuổi, trong một buổi chiều anh và các bạn trong xóm rủ nhau lấy xe chạy vòng vòng xa lộ, mỗi một chiếc xe chở hai chạy bon bon trên lộ, đi ngang một cô bé xinh xinh, bạn anh ngồi đàng sau đưa tay ôm choàng eo cô bé khiến cô bé té lộn nhào trên đường. Cha mẹ cô bé thưa kiện, thế là cả bọn bị Công An bắt giam cả người lẫn xe – Mẹ anh hay tin chạy vào trại giam hỏi cớ sự, người Công An trả lời :
-          Con trai cô đã bị thưa về tội chọc gái ngoài đường gây thương tích, phải bị giam cảnh cáo một tuần và bồi thường 5 triệu đồng thiệt hại cho nạn nhân.
-          Thưa anh, lỗi không phải do con tôi mà là người ngồi đàng sau hành động, sao lại bắt con tôi bồi thường ? Mẹ anh ta thắc mắc hỏi lại tên Công An.
-          Chị hiểu cho, chúng tôi nắm kẻ có tóc, không nắm kẻ trọc đầu…Con chị dại dột chở vào thằng bạn lưu manh thì rán mà chịu. Nếu chị không giao số tiền 5 triệu bồi thường thì chiếc xe và con chị chúng tôi xin phép phải giam giữ theo luật hiện hành.
Anh ta lúc ấy đứng bên trong phòng nhìn thấy sự việc, bước ra nói với mẹ :
-          Mẹ đền đi cho rồi, để cho con về và lấy xe ra chứ mấy thằng kia nhà nghèo đâu có tiền đền !
Lúc đó, mẹ anh ta không làm cách nào hơn vì người Công An đã nói thẳng “ nắm kẻ có tóc, không nắm kẻ trọc đầu” thế là phải bồi thường 5 triệu để cho anh và xe được về…
Anh là người rất được cảm tình mọi người và bè bạn, chỉ tội phá của thì không ai bằng, anh vẫn nhớ chiếc xe tốc hành của mẹ dùng để chở khách hàng ngày, anh lấy chở 20 thằng bạn đi Long Hải ăn nhậu, nhét cứng một xe đầy như nhét cá mòi hộp, anh đã bắt mẹ phải cho tiền đưa bạn đi chơi, anh mua 2 cây thuốc ngoại 555 chia cho mỗi thằng 1 gói, xuống đến Long Hải anh bao toàn bộ ăn uống, nhậu nhẹt đến cả bao gái cho các bạn luôn…Ngày đó mẹ mất sở hụi chuyến xe chở khách mà lại còn phải tốn cho anh một số tiền khá nhiều. Mẹ chiều anh quá nên anh hư, mà cũng do anh hung dữ áp đảo nên mẹ phải chiều cho xong chuyện, thành ra càng ngày anh càng hư hỏng, nghĩ mà thương mẹ…Bây giờ sắp xa mẹ để bước vào con đường rủi may của mệnh số, lòng anh bùi ngùi vô hạn, mẹ có hiểu cho sự hối hận tràn đầy trong anh, mai này cầu xin cho anh đến được bến bờ tự do, anh nguyện trong lòng sẽ đền ơn báo hiếu hầu an ủi phần nào cho mẹ nơi quê nhà…
Đã đến giờ ấn định, anh vội vã bước ra đường nhìn về hướng sông Hương. Đêm qua, anh từ giã mẹ xuống nhà quen ngủ cho gần sông Hương, bến sông vắng tanh, không một bóng người ! Anh lặng lẽ đi dọc theo bờ sông Hương, bầu trời mùa thu mát mẻ, thỉnh thoảng những chiếc lá khô rơi rụng bay lả tả uốn tròn trong gió sớm, nhìn cảnh thấy đẹp như một bức tranh sống, anh buồn trong lòng, chỉ phút chốc nữa anh phải lià xa quê hương, lià xa những phong cảnh tuyệt vời đã cùng anh ấp yêu bao kỷ niệm cùng gia đình, bè bạn thân thương…Lòng anh chùng xuống nặng nề, anh ngồi qụy trên mõm đá sát bờ sông để nghe từ tâm thức mình đang dâng lên cơn bão động ! Anh chợt thấy lo sợ cho một cuộc hành trình phú cho định mệnh, một cuộc hành trình bấp bênh hoàn toàn nhờ vào sự rủi may…Làm sao anh có thể quên được những hình ảnh hãi hùng trong ký ức chỉ hơn hai năm qua, bến sông này đã trôi giạt vào hơn một trăm xác chết, nổi lềnh bềnh ghê rợn, cả thành phố ai cũng túa bủa ra để tìm kiếm thân nhân, những tiếng khóc nức nở vang dậy một khúc sông buồn, một người đàn ông trạc gần 50 tuổi, tay dẫn hai đứa con thơ ra tìm xác vợ, ông ta đứng chết lặng bên một tử thi người đàn bà đã cứng đờ…thành phố này không ai còn xa lạ với ông ta, ông là một sĩ quan vừa đi tù Cộng Sản về, vợ ông là cô Linh, một người phụ nữ đẹp chuyên nghề buôn bán thuốc tây tại tỉnh nhà để nuôi hai đứa con và nuôi chồng tù tội – Cuộc đời là những đổi thay, tráo trở nào ai biết được nên ông Trời đã đặt cho nhân loại một câu nhắc nhở “ Thiên bất dung gian” để cảnh cáo loài người nhưng chẳng ai biết sợ cứ thản nhiên hành động bất nhân gian dối để rồi lãnh hậu quả tức thì – Anh vẫn nhớ mãi câu này Mẹ anh thường nói để khuyên anh trong cuộc sống đảo điên trăm bề, anh tuy phá của phá tiền nhưng không làm điều gian dối, lường gạt ai bao giờ mà trái lại anh rất thương người, giúp đỡ người, rộng rãi với mọi người…
Mọi người đứng xung quanh cha con ông sĩ quan mà ứa nước mắt, ông tên Quân, ông Quân không khóc, gương mặt đầy nỗi khắc khổ đến thương tâm, từ trái tim cằn cỗi khổ đau kia đang chồng chất thương yêu và thù hận ! Chị Linh vợ anh đã tàn nhẫn bỏ ông và hai con, trốn đi vượt biên với nhân tình, ông đã nghe trong thời gian qua là vợ đang cặp bồ với một người đàn ông khác và hay lân la cùng người đó quan hệ ghe tàu – Ông Quân đã nghe phong phanh cả 4 tháng qua nhưng chỉ biết cầu nguyện ơn trên cho đây là chuyện bịa đặt, hơn thế nữa, ông là một kẻ tội tù vừa được hồi sinh từ địa ngục trần gian, ông cần phải sống, ông đã từng mơ ước bao năm ngày xum họp vợ con, ông không thể làm điều gì khác hơn là im lặng và buồn tủi trong lòng mà thôi ….Ông Quân và hai đứa con quỳ xuống lạy xác chị Linh rồi thuê xe mang xác về tẫn liệm, một người phụ nữ đẹp đã đi vào thiên cổ lúc tuổi còn xuân xanh ! phải chăng đây là hình phạt mà ông trời dành cho những kẻ sống vô nhân, bạc nghĩa, bạc tình ?
Lần lượt trong ký ức anh sống lại những chuyện hãi hùng của những chuyến vượt biên xãy ra liên tiếp tại ngay tỉnh nhà của anh, anh cảm thấy hồi hộp khác thường cho chuyến đi mạo hiểm này, anh còn nhớ cách đây hơn bốn năm, cách nhà anh chừng 200 mét, cô Ánh dẫn 4 đứa con đi vượt biên, các con của cô đứa lớn nhất cũng đã 14 tuổi, là bạn quen của anh. Chú Soi chồng cô Ánh làm nghề sửa tủ lạnh, máy giặt rất chuyên nghiệp - Chú Soi, Cô Ánh ly dị đã 5 năm, cô cặp bồ với chú chủ ghe còn trẻ hơn cô 7 tuổi, trong một đêm không trăng, không sao, chiếc ghe rời bến, chiếc ghe đã ra đi mãi mãi không bờ bến đậu, chiếc ghe đã đưa những con người đang mơn mởn yêu cuộc sống về vùng đất nghìn trùng, về với biển cả bao la ! Hơn bốn năm rồi không tin tức, cả đoàn người trên chiếc ghe không có một tin tức nào về cho gia đình, cho thân nhân hay cho bạn hữu…Anh càng không quên chuyến ra đi vượt biển đầy gian lao của vợ chồng Chú Nghĩa cô Phụng ngay sau lưng nhà anh cũng cách nay chừng 3 năm – Chuyến ghe khoảng hơn 80 người , vợ chồng chú Nghĩa mang theo hai con nhỏ, giữa biển lớn gặp cơn bão cấp 12 tàn bạo, chiếc ghe chống chọi không nỗi với thần biển nên bị sóng lớn đánh lật úp – Anh Nghĩa vì quá lo cho hai đứa con, anh cố bám kéo hai con nên cùng ngập xuống biển sâu, chị Phụng may mắn chụp được cái can không bằng nhựa, chị bíu chặt bơi theo dòng nước xoáy, chị là gái miền tây bơi rất giỏi, cuối cùng trên chiếc ghe định mệnh chỉ còn sống sót một mình chị Phụng, tất cả đã ra đi không một lời từ giã, không hẹn ngày trở lại bao giờ !!!
Nhớ lại và hình dung lại, anh rùng mình sợ hãi tháo bước quay lui, những mơ ước về chân trời hoa gấm đã nhạt nhoà trong anh, bầu trời tự do như không còn ý nghĩa gì để có thể níu kéo bước chân đứng lại, anh chạy một mạch về nhà người bạn, thu gom vài món đồ của mình rồi ra xe Honda ôm về nhà – Mẹ thấy anh về, hốt hoảng hỏi :
-          Cớ sao con lại trở về nhà ?
-          Con chờ hoài chả thấy ghe đâu cả, không lẽ đứng đó chờ Công An lại bắt ? Anh trả lời.
Chợt có tiếng xôn xao ngoài đường lộ trước nhà, anh chạy ra nghe ngóng, họ đang bàn tán về chiếc ghe vượt biên bị bắt vào buổi sáng hôm nay, tất cả có 49 người, bị bắt đem nhốt trong trại giam của Công An Tỉnh, trong đó có cô ca sĩ nổi tiếng Thanh Lan, vừa đẹp vừa hát hay mọi người ai cũng thích cô cả…Anh bàng hoàng, hỏi ra tên chủ ghe anh mới xác định đúng là chiếc ghe mẹ đã lo cho anh đi, ghe đã bị bắt còn anh thì cứ đứng trên bờ sông trông ngóng ! May mắn từ đâu đem đến cho anh, anh lầm thầm cảm ơn Thượng Đế, cảm ơn Trời Phật đã cứu anh thoát tù tội…
Thời gian trôi qua, anh vẫn quen thói ăn chơi phá của phá tiền, mẹ lại gởi anh đi…lần này đi ghe lớn. Ông chủ ghe tên Chú Ba Hạnh, nhà tại Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa, thành phố Vũng Tàu, theo như mẹ anh nói thì chiếc tàu chứ không phải chiếc ghe vì lớn lắm tới 6 máy đầu xanh Kubota – Đêm tới, một chiếc xe cam nhông đổ tại chợ để chờ bốc khách, mẹ anh cũng là một trong những người lo lương thực và bãi bến nên anh không phải tốn vàng đóng cho chú Hạnh. Anh leo lên xe cam nhông theo đoàn người lên trước, tự nhiên như hành khách đi xe đò không thấy ai sợ hãi bắt bớ, thì ra chú Hạnh đã mua đứt Công An tại đây…Trên đường xe chạy đến cầu Phú Mỹ thì thấy đàng trước có công an chận lại tuần tra về đêm vì lúc đó là 2 giờ sáng, mẹ anh thì chạy xe Honda phiá trước để dò đường xem tình hình an ninh hay trở ngại cho xe cam nhông – Trước mặt mẹ là hai chú công an đang cầm đèn pin dọi xa về phiá chiếc xe cam nhông, mẹ anh lanh trí tốp xe Honda lại sát vào hai anh Công An, làm bộ hỏi han lăng xăng nhờ các anh chỉ tìm mụ đở đẻ cho người chị đang chuyển bụng, các anh đêm khuya gặp phụ nữ xinh xắn nên vồn vã nói chuyện làm quen…thế là xe cam nhông vượt qua thoát nạn ! Lên một quãng xa đến chỗ quẹo trái để vào bãi bến, khách vừa đổ xuống để đi bộ xuống bãi thì chó hai bên đường sủa vang làm chấn động đêm khuya tĩnh mịch…mọi người sợ hãi chạy nhanh, anh cũng chạy theo họ. Khi đến bến bãi, anh đã nhìn thấy chiếc tàu to lớn nằm chờ ngoài xa, sát bờ là 4 chiếc ghe nhỏ lần lượt đưa khách ra tàu lớn…tưởng đã an toàn, mọi người hăm hở bước sang tàu lớn, chú Hạnh là người lên tàu sau cùng sau khi đã chuyển hết người nhà và khách lên tàu. Bỗng một loạt súng nổ vang, một toán khoảng gần 10 người công an bô đội du kích gì không rõ chạy nhanh tới, bắn ào ạt xuống tàu lớn la to “đứng lại, đứng lại”…Người tài công không dám chạy khi những phát đạn ria gần tàu tứ tung làm ông khiếp đảm và tung tóe cả mặt nước đen ngòm về đêm nhưng chú Ba Hạnh giục tài công phải chạy vì cả tài sản lớn lao này ông không thể để mất vào tay họ, ông đã bán nhà, bán vườn và còn lấy một số vàng của bạn bè bỏ vào mua tàu và cho gia đình họ cùng đi trên chuyến tàu này !
-          Lái mau đi, tụi nó không có ghe đâu thể rượt bắt mình kịp, tăng tốc độ lên, mau lên…Chú Ba Hạnh hổn hển vừa thở vừa gấp gáp nói.
Tàu chạy được một khoảng xa, chưa kịp mừng thì từ đàng xa một chiếc ghe chạy với tốc độ thật nhanh tiến tới, trên ghe tới gần thấy rõ hàng chữ “ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt  Nam” , “thôi chết rồi” chú Hạnh buột miệng thở dài…tài sản của chú sẽ thành tro bụi! Họ bước lên tàu trong khí thế hung hăng, súng chĩa vào từng người, chú Hạnh là người bị mang còng số 8 trước tiên ! Họ ra lệnh cho tàu quay trở lại chỗ cũ, bao nhiêu con người trên tàu đau đớn nhìn nhau, những người đã bỏ vàng chung vào mua ghe để cùng đi, họ chết lặng cả tâm hồn và não giác, họ bước đi không nổi…thím Hạnh và một bầy con nhỏ 8 đứa, đứa nhỏ nhất chỉ mới 2 tuổi, thím khóc gào thê lương thảm thiết khi nhìn chồng bị khóa đôi tay !
Tàu trở vào chỗ cũ, bọn họ đã giữ hết 4 chiếc ghe nhỏ và bắt giữ 4 người chủ ghe này – thì ra khi tàu lớn cố tình vượt thoát, họ đã về trạm điện đàm cho Công An Biên Phòng ngoài khơi để bắt lại – Tình thế bắt buộc Công An Biên Phòng phải bắt, nếu không hoạ lây cả đám biên phòng, chứ nội tình bên trong là chú Hạnh chủ ghe đã đút tiền cho đám biên phòng rồi và cũng đã cho tiền mấy đứa du kích tại xã này …chú Hạnh ỷ lại mình quen lớn nào ngờ giờ chót bầy chó sủa vang làm bể hỏng một cuộc hành trình đã xếp đặt bằng mồ hôi, nước mắt, bằng cả những tài sản bạc vàng của cải lớn lao !
Khi đoàn người bị đưa lên bờ để chuẩn bị vào trại giam, anh nhìn quanh quất không thấy mẹ anh đâu, trong lòng anh lo lắng bồn chồn, lo sợ không biết mẹ anh có bị bắt hay không ? Khi những người công an biên phòng bước lên bờ nói chuyện to nhỏ cùng đám công an du kích, thì đột nhiên họ ra lệnh cho giải tán, ai về nhà nấy, không bắt một ai chỉ riêng bắt mình ông chủ tàu là chú Hạnh mà thôi ! Tàu bị kéo về Sài Gòn trong đêm và giam giữ tại xa cảng Cầu Sài Gòn.
Trên tàu chú Hạnh có cất ở một góc dưới ghế tài công 30 lượng vàng đem theo phòng khi đến xứ người có mà ăn tiêu qua ngày lúc ban đầu khó khăn, chú tiếc hùi hụi mà không biết cách nào để lấy, nước mắt chú tuôn trào nhìn con tàu dần dần xa khuất trong màn sương đục mà nghẹn đắng cổ họng, chú không còn gì nữa rồi ! ba mươi năm lăn lóc khổ cực, một phút giây thành tro bụi ! Vợ con chú bây giờ sẽ cư ngụ nơi đâu ? Một vợ tám con thơ, liệu sống làm sao đây trong tình thế chú bị tù đày, từ xưa nay thím Hạnh chỉ là người đàn bà lo cho chồng cho con trong nhà, thím hiền hậu, nhu mì, chưa một ngày va chạm xã hội bên ngoài, làm sao sống được khi không nhà cửa, không tiền bạc, một tay nách 8 con thơ còn nhỏ dại !!!
Chú Hạnh bị tống giam vào trại giam Phan Đăng Lưu gần chợ Bà Chiểu, thỉnh thoảng mẹ anh đi cùng vợ chú Hạnh lên thăm – cũng còn may mắn khi đi chú Hạnh để lại đứa con gái lớn có chồng, nó không chịu đi và ở bên nhà chồng, thằng No chồng nó tối ngày cày sâu cuốc bẩm, ai nói tới chuyện vượt biên là nó phản đối kịch liệt, bởi vậy khi biết cha vợ toan tính đi vượt biên là nó cấm không cho con Thủy vợ nó về nhà thăm cha mẹ ruột – Bây giờ thím Hạnh và 8 đứa nhỏ tá túc đỡ trong gia đình xui gia, ba má chồng của Thủy. Chiều đến là thím Hạnh ngồi ngoài hè nhà khóc rấm rức, thương chồng tù tội, thương con lê lết đói khổ, thiếu thốn trăm bề…mẹ anh những lúc rảnh thường chở anh lên thăm thím Hạnh, mang những món quà cho các đứa bé đáng thương kia !
Thế là hai lần vượt biên không thành, anh chán ngán không còn nghĩ đến chuyện ấy nữa, thì bỗng nhiên mẹ được giấy bão lãnh từ Mỹ gởi về, anh yên lòng chờ ngày đi bằng máy bay cho sung sướng cuộc đời, không lo chết chóc, bắt bớ tù tội…Tháng rồi thằng cha thầy bói ghé ngang nhà, tự dưng gặp anh, ông ta dừng lại nói chuyện hỏi han, anh vui miệng nói “ chuẩn bị đi bão lãnh với mẹ và chị”, ông ta nghiêm mặt nói “ cậu không có số ở nước ngoài, còn cô này mới có đường đi xuất ngoại” ông chỉ vào người chị của anh và nói như thế…Anh cười khì chẳng tin mà còn thách “ ông mà nói đúng tôi biếu ông cả gia tài này”.
Và…một ngày anh đã xuất ngoại bằng máy bay, sung sướng như anh mong muốn, và…một ngày anh đã phải trở về quê hương trong đen tối mịt mù bên bốn bức tường tù tội, anh hối hận đến tận cùng xương tuỷ, nhưng tất cả đã muộn màng ! Anh vô tội, nhưng một chế độ theo luật rừng, nhất là anh, một người từ nước ngoài về, anh là miếng mồi ngon cho chúng chụp, nỗi oan tình này biết tỏ cùng ai, mẹ đã xa anh hơn nửa quả địa cầu ! Bản án 7 năm đối với anh là tiếng sét đánh giữa đầu, anh là kẻ từ phương xa về thăm quê hương vài tuần thì biết gì mà tổ chức, thế mà họ đã cột anh vào tội nặng nề đó, anh đã quá rõ về cái xã hội kim tiền này, và anh cũng đã biết rằng vì cái mác Việt Kiều mà anh lãnh bán án oan tình 7 năm nơi lao lý, anh đã làm đơn chống án nhưng chả ai xét xử cho anh, anh ngồi trong bóng đêm hằng giờ để tự ngẫm suy dày vò tim óc mình, anh chưa tạo được điều gì tốt đẹp cho gia đình, cho xã hội như lòng anh mong ước…
Anh chợt nhớ lại lời ông thầy bói, quả tình ông ta nói đúng vì anh đâu còn cơ hội trở về Mỹ, ngày nào đó đủ hạn 7 năm tù anh cũng là người của Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà thôi, bởi anh qua Mỹ theo diện PIP ( gọi là diện nhân đạo, diện ăn theo) ra khỏi nước Mỹ 7 năm lại vướng lao tù, chắc chắn anh muôn đời “ lục quân Việt Nam” thôi.
Anh có ân hận không vì những nông nổi trong cuộc đời đưa anh sa lầy thê thảm, hay là số mệnh của mỗi con người không ai tránh khỏi, ông thầy bói linh thiêng kia ơi, tôi có còn tài sản gì nữa đâu mà biếu ông như tôi đã thách thức ông mười năm về trước, hay là tại tôi gây nhiều nghiệp chướng, vung tiền phá của, ngày nay phải chịu hậu quả của đất trời…Anh gục đầu nức nở bên bốn bức tường lạnh ngắt, đành buông xuôi cho định mệnh an bài…
Bên ngoài trời tối đen như mực, xung quanh anh có vài tiếng thở dài, những bạn tù cũng đang thao thức trăn trở như anh, những người tuổi trẻ đáng thương của một xã hội chậm tiến, bảo thủ, anh đã từng sống bao năm trên đất nước tự do, văn minh, phú cường, sao anh lại về đây chôn đời trong lao lý ? thật là vô lý !!! Anh hận thù chế độ phi nhân, giận cho số mệnh và…giận chính bản thân mình nên đã nhiều đêm thức trắng…
Trời đang lặng gió bỗng nổi cơn thịnh nộ, sấm chớp lập lòe như xé không gian, mưa trút xuống như thác đổ, anh ngồi bó gối khổ sở, anh cảm nhận trong anh một niềm hối tiếc vô vàn…anh nhớ những con đường freeway thênh thang, những siêu thị rực rỡ đèn màu, cửa hiệu thâu băng nhạc của anh và…anh nhớ nhất là chiếc xe Lexus  mới mua chưa đầy một năm ! tất cả bây giờ chỉ còn là ảo tưởng, anh đã đánh mất tất cả rồi, ngay chính con người anh, anh cũng không còn là sỡ hữu, tự nhiên nước mắt anh tuôn trào, anh khóc như chưa bao giờ được khóc…ngoài trời mưa vẫn chưa dứt, cây lá rung xào xạc giữa đêm khuya, anh nghe như có luồng gió lạnh tràn vào thấm buốt tận buồng tim…

vào lúc: 26/07/09, 14:02 9 Thư giãn - Giải trí / Gallery cuộc sống / HOA và ý niệm ...TBVT mới sưu tầm được


HOA  ANH  THẢO - PRIMEVERE 


Ngọc Trâm-hay còn gọi là Anh Thảo, là loài hoa dại mọc nhiều ở các vùng ôn đới, có một đài hoa hình ống và năm cánh hoa màu vàng nghệ. Hoa Anh Thảo xuân nở, báo hiệu sự trở về của mùa xuân, khi những cơn gió lạnh và sương giá trắng xóa đã qua đi nhưng những ngày ấm áp tươi sáng của mùa hạ lại chưa đến

 

Tên tiếng Việt : Anh Thảo hay còn gọi là hoa Ngọc Trâm
Tên tiếng Anh : Primrose hay Cowslip
Tên tiếng Pháp : Primevère
Tên Latin : Primula
Message : "I can't live without you"  -  " Je ne peux pas vivre sans Toi ! "
Symbol : Early youth - Tuổi trẻ - Mối tình đầu  - La jeunesse - Premier amour.

 

Mùa xuân và hoa Anh Thảo
Yêu nhau như cặp tình nhân

Ngọc Trâm-hay còn gọi là Anh Thảo, là loài hoa dại mọc nhiều ở các vùng ôn đới, có một đài hoa hình ống và năm cánh hoa màu vàng nghệ. Hoa Anh Thảo xuân nở, báo hiệu sự trở về của mùa xuân, khi những cơn gió lạnh và sương giá trắng xóa đã qua đi nhưng những ngày ấm áp tươi sáng của mùa hạ lại chưa đến. Do vậy, loài hoa này là biểu tượng ưu thế của sự duyên dáng và sắc đẹp tuổi trẻ, là đại diện cho lứa tuổi giữa trẻ con và thiếu nữ, tuổi dậy thì. Tên của nó bắt nguồn từ chữ Latin Prima Rosa, hoa đầu tiên trong mùa. Tuy vậy, cũng có một số quan niệm khác cho rằng hoa Anh Thảo còn có ý nghĩa là sự không kiên định, thiếu kiên nhẫn, thiếu tự tin, hay thay đổi. Còn với tâm hồn thi sĩ của Shakespeare, ông nhìn những đóa Ngọc Trâm bằng cái nhìn ảm đạm-khi trong một bài thơ-ông so sánh loài hoa này với những nàng thiếu nữ chết ở tuổi thanh xuân.

Yêu em bạn ngọc bên đời
Hồng xuân xin tặng tim bồi hồi đau
Hoa trinh một nụ tươi cười
Tuổi thơ xanh ngát một đời nhớ thương

("The Winter's Tale"-William Shakespeare,1564-1616)

 

Hoa Anh Thảo muộn - Evening Primrose thì lại chỉ nở khi đêm xuống, nó không bao giờ hé mở các búp hoa của mình cho đến khi trăng lên. Hoa hướng về phía trăng bạc. Khi đêm xuống và không gian hoàn toàn yên tĩnh, các cánh hoa phát ra một thứ ánh sáng lân tinh dìu dịu. Anh Thảo muộn tượng trưng cho một tình yêu thầm lặng.



Hoàng hôn từ tốn buông màn
Sương long lanh gọi ngày tàn trăng lên
Giữa ngàn sao mọc êm đềm
Hoa Anh Thảo muộn theo đêm trở về
Như ẩn sĩ ngậm lời thề
Trăng lên hoa nở chẳng hề đơn sai Hoa ơi hoa nở vì ai
Lặng thầm nhan sắc đêm dài lẻ loi
Để khi nắng sớm mai soi
Lại từ tạ nhận thiệt thòi ra đi...

(John Clare)


Người La Mã gọi hoa Anh Thảo là "tuber terrae" bởi vì rễ của nó trông giống như những củ cải trắng. Từ thế kỉ 17, người ta đã biết bào chế những "củ tươi" của cây Anh Thảo để làm thành một loại thuốc mỡ, dùng bôi vào da để tránh bị thẹop rỗ sau khi bị bệnh đậu mùa. Củ Anh Thảo còn được xay thành bột để làm bánh, bồi bổ sức khỏe, tăng khả năng sinh hoạt tình dục hay làm thực phẩm cho gia súc.Hoa Anh Thảo còn có thể dùng ngâm rượu (Cowslip wine). Cháo hoa Anh Thảo được nấu từ bột hoa, mật ong, sữa hạnh đào, nghệ tây, gạo và bột gừng, ăn bổ dưỡng. Lá cây Anh Thảo có thể ăn sống hay nấu trà uống.


Dưới triều đại nữ hoàng Victoria, hoa Ngọc Trâm trở thành một loài hoa thời thượng và được thủ tướng Disreali yêu thích nhất. Nữ hoàng Anh thường gửi cho ông những bó Ngọc Trâm hái từ khu vườn hoàng gia. Và khi ông mất, nữ hoàng đã gửi đến một vòng hoa lớn kết bằng những đóa Ngọc Trâm để bày tỏ mối thiện cảm và sự kính trọng của mình.
Cho đến giữa thế kỉ 17, Anh Thảo xuân vẫn chỉ có màu vàng, sau đó, những nhà làm vườn ở Anh mới lai tạo thành nhiều màu như đỏ sậm, đỏ nhạt, đỏ chói, vàng nhạt như bây giờ.



 

Hoa của mùa cưới



Theo như truyền thống của người vùng Normandie ( Pháp quốc ) thì những đám cưới vào mùa xuân, ngày hôn lễ, cô dâu phải nhảy qua một con suối nhỏ! Tại nơi đó người ta đã rắc đầy hoa Anh Thảo...! Nếu như hoa vẫn tiếp tục nổi trên mặt nước thì đây là một đám cưới hạnh phúc! Hoa Anh thảo đã gắn liền với tình yêu đến độ các bà mẹ ở những vùng thôn quê xa xôi... đã dùng chất bột nghiền từ rể của Anh thảo để nhét vào gối nằm của các cậu con trai mình, hòng mong các chàng tránh được sự quyến rủ của các cô gái !


 


Loại Anh thảo được quý chuộng bởi hàng bán hoa là l' Auricula ( Tai gấu ! ), thế kỷ thứ 18 người ta thường tổ chức hội chợ hoa vào mùa Xuân và các nhà khảo học chuyên môn về thực vật rất yêu thích loại hoa này!

Giữa thế kỷ 19, tại Bristol, hàng năm người ta tổ chức hội chợ hoa chỉ để dành riêng cho Anh Thảo!


 


Chuyện còn kể rằng một ngày nọ, Thánh Pierre đã tức mình vì những linh hồn muốn vượt qua cửa Thiên Đàng, Ngài đã đánh rơi chìa khoá xuống trần gian, tại nơi đó mọc lên những chùm hoa Anh Thảo, cho nên hoa còn được gọi dưới tên " Những chìa khoá nhỏ của Thiên đàng "!



Sưu tầm và bổ túc

vào lúc: 13/07/09, 01:21 10 Cổng vào tri thức / Không phân loại / Truyện chín ông trạng Việt Nam

Trạng Ăn
[/b]


Ở Hưng Yên, huyện Tiên Lữ, làng Tiên Châu xưa có một người tên là Lê Như Hổ, nhà nghèo mà học giỏi, nhưng ăn khỏe quá, mỗi bữa ăn một nồi bảy cơm (đáng lẽ mười người ăn mới hết) mà không no. Cha mẹ ông không kiếm đủ cho con ăn, buồn lắm, phải cho Lê Như Hổ gửi rể một nhà giàu ở làng Thiên Thiên.
Ở nhà vợ, Lê Như Hổ ăn mỗi bữa một nồi năm, nhưng không dám đòi thêm, sợ cha mẹ vợ buồn. Vì thế, ông không mạnh nên việc học hành có ý hơi lơ đãng. Bố mẹ vợ phàn nàn với bố mẹ đẻ Lê Như Hổ.
Ông bố đẻ mới hỏi:
- Chớ tôi hỏi thực ông, mỗi bữa ông cho cháu ăn uống ra sao?
- Mỗi bữa, tôi cho cháu ăn một nồi năm.
- Thảo nào! Nhà tôi tuy nghèo mà còn phải cho cháu ăn mỗi bữa một nồi bảy. Ông cho cháu ăn ít nên nó biếng nhác là phải lắm. Ông thử cho cháu ăn thêm coi.
Ông bố vợ nghe lời, về cho con rể ăn mỗi bữa một nồi bảy. Lê Như Hổ học có ý chăm hơn trước một chút thôi. Mẹ vợ thấy con rể như thế phàn nàn với chồng:
- Ăn một nồi bảy cơm mỗi bữa mà tối đến chỉ học được dăm ba tiếng. Ông khéo lựa rể quá. Cái ngữ này chỉ ăn khỏe cho mập thôi, chớ có gượng mà học cũng chỉ là học lấy lệ, chớ chẳng trông cậy gì được đâu.
Ông bố vợ nói:
- Nó ăn khỏe tất có sức hơn người. Trời cho nhà mình đủ ăn thì cứ việc gì nói ra nói vào lôi thôi.
- Ông nói tức anh ách. Cứ ăn khỏe thì làm việc khỏe hay sao? Thì đấy, nhà ta có mấy mẫu ruộng bỏ hoang, cỏ mọc ngập đầu người đấy, ông nó đi dọn xem có được không nào.
Lê Như Hổ nghe thấy mẹ nói thế, tức quá, hôm sau ăn cơm sáng xong vác con dao phát bờ ra ruộng. Ðến nơi thấy, có cây cao bóng mát, ông nằm ngủ một giấc say sưa. Mẹ vợ đi chợ về qua đấy, thấy con rể gối đầu lên gốc cây ngáy pho pho, lật đật chạy về nhà gắt với chồng:
- Kìa, ông ra ruộng mà xem con rể ông kia. Tưởng là ăn xong vác dao ra ruộng làm gì, hóa ra ngủ khoèo. Ông còn bảo tôi thổi thật nhiều cơm cho nó ăn nữa hay thôi?
Bà lôi cho được ông chồng ra ruộng để xem tận mắt thằng con rể ăn khỏe mà "lười chẩy thây chẩy xác" ra. Bất ngờ ra đến nơi thì cả hai ông bà đã thấy ruộng sạch quang cả rồi. Thì ra trong khi bà mẹ vợ từ ruộng về nhà, ngầy ngà cãi nhau với chồng thì Lê như Hổ đã thức giấc, cầm dao phái cỏ như điên. Cỏ hoang bụi rậm đều bị chặt phăng phăng, thậm chí có những cái vũng lầy có cá cũng không kịp chạy, chết nổi lều bều cả lên mặt nước.
Ðến lúc ấy, bố mẹ vợ Lê Như Hổ mới biết kỳ tài của con rể. Cũng từ hôm ấy, bà mẹ vợ bữa nào cũng thổi riêng một nồi mười cho rể ăn cho đủ no thì quả Lê Như Hổ học hành không biết mệt.
Một hôm, mẹ vợ Lê Như Hổ sai Lê Như Hổ đi kêu thợ về gặt lúa. Lê Như Hổ bảo:
- Mẹ ở nhà cứ thổi cơm sẵn, con kêu họ về, họ ăn xong là làm việc liền.
- Con kêu thợ gặt, nhưng không ai chịu làm. Thôi, để con ăn xong, làm một mình cũng được.
Nói xong, Lê Như Hổ ngồi ăn hết cả một nồi hai mươi. Bố mẹ vợ trông thấy phát sợ, hỏi:
- Con ăn như thế không sợ bể bụng ra?
Lê Như Hổ cười:
- Con ăn một nồi hai mươi cũng như người ta ăn ba bốn chén. Cha mẹ đừng lo, ăn xong, con đi làm liền. Con xin cam đoan làm một mình đến chiều tối thế nào cũng xong.
Ăn xong nồi hai mươi, Lê Như Hổ đem liềm hái và gánh đòn càn ra ruộng. Quá trưa, đến chiều thì xong hết. Lê Như Hổ bó lúa lại làm bốn gánh chất cả lên đòn càn quảy về luôn một lúc. Bao nhiêu thợ cấy thấy ông một mình gánh nhiều như thế mà cứ đi phăng phăng như không, đều phải lắc đầu le lưỡi.
Từ đó, bố mẹ vợ Lê Như Hổ hết sức quí mến Lê Như Hổ.
Hồi ấy ở một làng gần đấy, nhân tiết xuân có mở hội đánh vật hàng năm. Năm nào. Lê Như Hổ cũng đến phá giải. Ðô vật nào thấy ông cũng đều chịu thua, vì ông ta mạnh như hổ, không ai sánh kịp (vì thế mới có tên Như Hổ).
Võ đã giỏi, văn ông lại hay. Từ ngày được bố mẹ vợ cho ăn no, Lê như Hổ học hành tấn tới một cách lạ kỳ. Năm ba mươi tuổi, văn ông đã lừng lẫy hết cả vùng Hưng Yên, sang đến Thái Bình, Nam Ðịnh. Ông đỗ tiến sĩ trong thời Quang Hòa nhà Mạc.
Bấy giờ có một người đỗ đồng khóa với Lê Như Hổ, tên là Nguyễn Thanh, người huyện Hoàng Hóa, tỉnh thanh Hóa. Một hôm, Nguyễn Thanh nói với Lê Như Hổ về nhà của mình:
- Nhờ trời, tôi cũng khá, chẳng giàu có gì nhưng ăn cả đời chưa hết.
Lê Như Hổ nói:
- Cả gia tài của bác, may ra chỉ đủ cho tôi ăn vài tháng.
Nguyễn Thanh nghe thấy nói thế, cho là Lê Như Hổ đùa giai, bèn nói:
- Bác khinh tôi quá. Cả gia tài tôi như thế mà bác bảo chỉ đủ cho bác ăn ba tháng. Bác không sợ mang tiếng nói dóc sao?
- Dóc hay không, chẳng cần nói lôi thôi làm gì? Hôm nào bác thử mời tôi ăn một bữa xem sao.
Thấy Lê Như Hổ thách như vậy Nguyễn Thanh mời liền.
Lê Như Hổ một hôm đến nhà Nguyễn Thanh thực nhưng chẳng may hôm ấy Thanh lại có việc quan vắng nhà.
Như Hổ đi thẳng vào nhà nói với vợ Nguyễn Thanh:
- Tôi với quan Nghè đây là bạn tâm giao, hôn nay có việc qua đây vào thăm bác và nhờ bữa cơm.
Bà vợ Nguyễn Thanh ân cần tiếp rước, một mặt gọi gia đình đầy tớ làm heo làm gà, một mặt hỏi Lê Như Hổ có bao nhiêu quân lính để liệu đầu người mà thổi nấu.
Lê Như Hổ nói:
- Thưa phu nhân, không có bao nhiêu, chỉ có độ hơn ba mươi người.
Bà Nguyễn Thanh sai làm ba mươi heo, dọn bảy tám mâm cỗ ra mời Lê Như Hổ dùng cơm, nhưng đợi mãi cũng chẳng thấy quân lính nào vào ăn cả. Lê Như Hổ cười mà bảo:
- Ối chao, họ không tới thì mặc, để tôi ăn cả cũng được.
Nói rồi ông ngồi ăn hết cả bảy tám mây cỗ, chỉ một lát thì làm bay hết cả mấy nồi hai mươi cơm, hai con heo, mấy mâm sôi, còn gà vịt, rau cải không thèm kể.
Ăn xong, Lê Như Hổ từ tạ ra về.
Ðến chiều tối, ông Nguyễn Thanh trở về, bà vợ kể chuyện lại và lè lưỡi sợ ông bạn ăn khỏe như thần, Nguyễn Thanh vỗ đùi bảo:
- Thôi, Lê Như Hổ rồi!
Bà vợ nói:
- Ờ, đúng đấy, ông ta ăn như hổ. Tôi ở nhà dưới nhìn lên thấy ông ta sới cơm ra chén chỉ và một miếng thì hết, còn sôi thì ông ta chỉ ăn độ mười miếng thì hết một mâm.
Một bữa khác, Nguyễn Thanh đi qua làng Lê Như Hổ, bước vào nhà thăm, nhân thể để tạ lỗi, Lê Như Hổ sai người nhà cũng làm ba con lợn, thổi năm sáu mâm sôi, ba bốn nồi hai mươi cơm, y như hôm vợ ông Nguyễn Thanh đã đãi mình để đãi lại Nguyễn Thanh. Mỗi người ngồi riêng một bàn. Lê Như Hổ ăn hết bàn mình mà Nguyễn Thanh thì ngắc ngứ ăn chưa hết một phần sáu. Lê Như Hổ đành lại phải ăn giùm cho Nguyễn Thanh. Ông Thanh hỏi:
- Thế thì gia nhân đầy tớ còn gì mà ăn nữa?
Lê Như Hổ nói:
- Gia nhân thổi cơm và nấu đồ riêng để ăn rồi. Ông không cần phải lo.
Nguyễn Thanh chắc lưỡi than:
- Ông ăn như thế, mấy lúc mà hết nghiệp. Ngày xưa, ông Mộ Trạch nổi tiếng là người ăn khỏe mà chỉ ăn hết mười tám bát cơm, mười hai chén chanh là cùng. Bây giờ thấy ông ăn, mới biết ông Mộ Trạch còn kém ông xa lắm.
Hai người cùng cười ầm cả lên. Về sau, Lê Như Hổ làm đến thượng thư, được vua phong làm Thiếu bảo Lữ Quốc Công, thọ bảy mươi tuổi.
 
Trang: [1] 2 3 ... 26